DANH TĂNG HÀ NỘI: HOÀ THƯỢNG THÍCH QUẢNG KÍNH TỰ TÂM KHOA

HOÀ THƯỢNG THÍCH QUẢNG KÍNH

(Tự Tâm Khoa, Đạo Hiệu Cẩn Trì)

 

Hoà thượng Thích Quảng Kính, Thế danh Nguyễn Tâm Khoa, đạo hiệu Cẩn Trì  (20/8 năm Kỷ Mùi  – tức 5/8 /1919 và viên tịch 2/9/2000).

Nguyên quán: thôn Khuyến Lương – phủ Thường Tín – Huyện Hoàn Long – tỉnh Hà Đông xưa, nay thuộc thôn Khuyến Lương, phường Trần Phú, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.

Thân phụ là Nguyễn Văn Lưỡng – Tự Phúc Lượng, thân mẫu là Lương Thị Đựa hiệu diệu Phúc, Hòa thượng là con út trong một gia đình nông dân nghèo thuần hậu, thâm tín đạo Phật.

Lúc thiếu thời (năm 10 tuổi – 1929) xuất gia tu hành tại Chùa Hương Tích thụ giới Sa Di làm đệ tử Tổ Thanh Tích viện chủ tổ đình Hương Sơn ( Hà Tây).

Năm 12 tuổi : Hòa thượng thường thị giả tổ Chùa Hương Tuyết.

Tại Hà Nội, khi cách mạng nằm vùng, phong trào Thanh niên Cách Mạng Đồng Chí Hội thành lập và hoạt động trong lòng địch có trụ sở tại Chùa Hương Tuyết, Hòa thượng hoạt động giao liên, giấu tài liệu có cán bộ họp Đảng vào những năm đầu kháng chiến.

Sau khi Tổ Hương Tuyết viên tịch, Hòa Thượng y chỉ vào ngũ Tổ là Vô Thịnh – Chùa  Linh Quang Bà Đá. Tại đây báo chuông sớm của sơn môn Bà Đá phát hành khắp thủ đô Hà Nội.

Năm 1938 thụ giới tỷ khiêu chính thức dự vào hàng tăng chúng.

Năm 1948, Chùa Càn Đà bị giặc Pháp phá huỷ,  tổ đường chùa Bà Đá bị cháy, Hòa Thượng cùng chư tăng Tổ Đình Linh Quang di dời Chùa Càn Đà về làm lại ngôi Tổ Đường Chùa Bà Đá.

Đầu năm 1952 : Phong trào toàn quốc kháng chiến, Hòa Thượng trở về quê hương trụ trì ngôi Chùa Khuyến Lương, phường Trần Phú, quận Hoàng Mai, Hà Nội (tức ngày nay).

Do chiến tranh tàn phá khốc liệt, ngôi chùa làng (Khuyến lương) đổ nát, với tâm nguyện của người con Phật – Hòa thượng không quản công sức, những trăn trở khó khăn trước mắt, cho đến năm hòa bình lập lại (1954), Hòa Thượng dốc hết công lao tâm huyết để xây dựng lại ngôi Phạm Vũ trang nghiêm và tạc tượng, đúc chuông v.v…  

Năm 1954 – 1956 Hòa thượng bị nghi là cộng sản nên bị quản thúc theo dõi tại Chùa và bắt giam tại nhà tù Hỏa Lò 03 tháng. Sau khi được tự do trở lại địa phương làm xã viên hợp tác xã. Ngoài những  thời  giờ tụng niệm , Hoà thượng vừa tu tập, vừa sản xuất lao động ( bán nhật thường trụ, bán nhật tự kỷ )

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Chùa Khuyến Lương là một trong những doanh trại cho Bộ Đội đóng quân, Hòa Thượng luôn ủng hộ những sản vật tăng gia sản xuất lao động mà có như thóc, gạo… để bộ đội và nhân dân có thêm lương thực nuôi sống qua những ngày tháng khổ cực.

Năm 1981, thống nhất Phật giáo Việt Nam, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thủ đô được thành lập,  Hòa thượng là Ủy Viên Ban Trị Sự Thành Hội và làm Hội Trưởng Phật Giáo Huyện Thanh Trì.

Năm 1997 Hòa thượng được Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ trao tặng huân chương bảo vệ an ninh tổ quốc.

Tổ Đình Khuyến Lương cho tới ngày nay là một trong những Tổ Đình nổi tiếng của Thủ đô Hà nội, xuất hiện những bậc danh tăng nỗi lạc, ở nơi đây Hòa thượng đã độ được hơn 10 đệ tử. Trong đó có các Thượng Tọa, Đại Đức đã và đang tham gia công tác Phật sự cho Giáo Hội với chức danh là Ủy viên Ban trị sự, Trưởng ban Phật Giáo các Quận, huyện, thị …

Thời gian tưởng chừng như cùng không gian khép lại , những công tác Phật sự của Hòa Thượng như tấm gương sáng để lại cho thế hệ Tăng Ni hàng hậu học, ngày nay tiếp nối khiến Phật Pháp xương minh rạng ngời chân lý đạo pháp dân tộc – chủ nghĩa xã hội. Dù ở địa vị của một công dân, hơn nữa là một sứ giả Như Lai, Hòa thượng vẫn làm tròn bổn phận trách nhiệm cao cả của Giáo Hội giao cho cũng như của đất nước.

Trong khoảng thời kỳ Hòa Thượng hoàn thành công tác Phật sự, Hòa thượng còn trụ trì các Viện Chủ lớn danh tiếng ở miền bắc như Tổ Đình Chùa Khuyến Lương nơi quê hương Hòa thượng sinh ra, Chùa Cửu Cao thuộc huyện Văn Giang – Hưng Yên  và Tổ Đình Chùa Đào Xuyên là nơi đào tạo tăng tài của Giáo Hội thuộc phái Lâm Tế miền Bắc. Đặc biệt hơn hết nơi đây đã đào tạo được các bậc danh tăng thạc đức thời hiện đại như tổ : Thích Mật Ứng – Pháp Chủ Tăng Già Bắc Việt năm 1951, Tổ Thích Thanh Đán – Hội trưởng Phật Giáo Hà Bắc 1962, Tổ Thích Đức Nhuận – Pháp Chủ Đệ Nhất Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam năm 1981.

Hòa thượng vẫn không quản ngại gánh vác mọi công việc trọng trách từ trên xuống dưới đã giao phó. Trong các khóa hạ an cư mỗi năm Hòa thượng luôn tham gia thuyết giảng kinh sách giáo lý Phật Đà, luôn luôn là bậc Thầy gương mẫu làm đống lương cho Phật giáo thời hiện đại. Hàng năm Giáo Hội có tổ chức các giới đàn Hòa thượng đã trao truyền giới châu tuệ mệnh cho hàng tăng ni dìu dắt bao thế hệ mầm non tương lai của phật Pháp . Được Chư tôn đức hết lòng cung kính coi như bậc Thầy mẫu mực luôn giáo hóa và tiếp độ chúng, những người có duyên với Hòa thượng đều được độ hết.

Ngày 5/8  âm lịch năm Canh Thìn  tức (2/9/2000)  vào một buổi sáng mùa thu đất trời ảm đạm đột ngột cho chốn tổ đình cùng sơn môn pháp phái, Hòa thượng đã an nhiên thâu thần thị tịch, khiến người người thương tiếc, mà rơi lệ, mặc dù vẫn biết là vô thường thân tứ đại lại trở về với tứ đại, nhưng sao không cầm lòng được sự ra đi của Hòa thượng. Bảo tháp của Ngài được tôn trí tại Chùa Khuyến Lương hiện nay vẫn còn đó với công đức vô lượng, niềm cung kính trang nghiêm vô tận của Ngài mà khiến Chư Tôn Đức không quản đường xá xa xôi từ Nam ra Bắc, cùng quý đạo hữu Phật tử khắp nơi cũng tìm đến đỉnh lễ giác linh Ngài để tri ân với những tâm huyết của bậc danh tăng luôn dấn thân vào những con đường bất chấp nguy hiểm để giúp người  đời và hoàn thành sứ  mệnh, đó là một điều khó làm của bậc quân tử thời kỳ loạn lạc-  là một bậc Bồ Tát cứu thế ra đời đã làm tròn Phật sự  đồng thời làm tốt đời đẹp đạo .

Thành tâm  kính nguyện giác linh Hoà thượng cao đăng Phật quốc và sứ mệnh – hành  Bồ Tát đạo của mình trong các đời vị lai đều tròn thành Phật đạo.

Nam Mô Phúc Hưng Khởi Tháp, Ma Ha Sa Môn Pháp Danh Thích Quảng Kính, Tự Tâm Khoa, Đạo Hiệu Cẩn Trì, Giác Linh Thiền Toạ Hạ.

Các tin cũ hơn