MẪU LIỄU HẠNH QUA CÁC BẢN THẦN TÍCH VÀ SỬ SÁCH NGHI CHÉP CỦA CÁC CÂU CHUYỆN

MẪU LIỄU HẠNH QUA CÁC BẢN THẦN TÍCH VÀ SỬ SÁCH NGHI CHÉP CỦA CÁC CÂU CHUYỆN

Nước Việt từ thủa sơ khai đến giờ, trắc hẳn ai trong chúng ta đều được nghe kể về những bậc thánh nhân quân tử và ai cũng có thể biết đến tứ bất tử của dân tộc mình. Một trong số Tứ Bất Tử của chúng ta chính là Bà Chúa Liễu ( Liễu Hạnh Công Chúa ).

Liễu Hạnh Công Chúa theo sử sách bà sống ở thời Hậu Lê, bà là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Đại Đế được phái xuống trần để cứu dân độ thế, mà sau này nhân dân thường gọi bà với cái danh Mẫu Nghi Thiên Hạ. Chính bà đã định ra tấm gương về đạo đức của người phụ nữ Việt Nam sau này đó là Tứ Đức ( Công, Dung, Ngôn, Hạnh ). Đối với cha mẹ thì tận tâm báo hiếu, đối với tình nghĩa vợ chồng thì chung thủy sắt son, đối với nhân dân thì đầy lòng nhân ái, bao dung. Đối với kẻ thù thì thẳng tay chừng trị.

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm thời Lê mạt, đã có hẳn một truyện “Vân Cát thần nữ” trong cuốn “Truyền kỳ tân phả”. Còn trong dân gian, từ trước đến nay, đã có biết bao nhiêu chuyện thật hấp dẫn, ly kỳ, thậm chí rùng rợn, về xuất xứ, hành tung, về biểu hiện khắp mọi nơi của Mẫu, tưởng chừng như Mẫu lúc nào cũng có mặt ở đâu đó, xuất kỳ bất ý, can dự vào tất cả mọi chuyện. Những chuyện này không tồn tại dưới dạng hoàn chỉnh, mà chỉ là những mẩu, có khi gắn kết vào nhau, lại có khi mâu thuẫn trái ngược nhau.

Nhìn chung, trong dân gian, đa phần muốn tin rằng đã có một Mẫu toàn năng, là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần của tất cả mọi người. Còn là sự khuyến thiện trừng ác trong mỗi con người. Không thể hình dung nổi, trong một xã hội, dù là văn minh đến đâu, người ta đối xử với nhau lại không xuất phát từ lòng thiện. Và trong đời mỗi một con người, không phải ai và lúc nào cũng đều cứng cỏi cả. Vì vậy, sự tồn tại một điểm dựa tinh thần, chung cho mọi người, sẽ không thể là điều vô ích.

Mình tổng hợp và đưa ra đây cho các bạn tham khảo những tích về Người Mẹ trong Tín Ngưỡng Tứ Phủ mà ta vẫn gọi với cái tên tôn kính Thánh Mẫu một người yêu nước thương dân, chung thủy sắt son hội đủ tam cương ngũ thường tam tòng tứ đức. Chính vì lòng yêu nước thương dân, chung thủy sắt son, nhân từ độ lượng mà bà đã ba lần giáng sinh hạ giới để nhân dân ngàn đời còn ghi nhớ công ơn.

1 THEO QUẢNG CUNG LINH TỪ PHẢ  BI, KÝ

     Theo Quảng Cung Linh Từ Phả Bi, Ký và  của Ban quản lý di tỉnh Nam Định thì thần tích của bà có chép ba lần tam sinh tam hóa như sau:

– Lần thứ nhất :

+Bà tên thật là Phạm Tiên Nga

+Sống ở thời Hậu Lê sinh ngày 6/3 năm Quý Sửu

+Quê Quán: Ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, Trấn Sơn Nam

+Cha là Phạm Huyền Viên và mẹ là Đoàn Thị Hằng

+Trước khi giáng sinh là công chúa Hồng Liên con thứ 2 của Ngọc Hoàng Đại Đế

+Tôn vị: Đệ tứ Tứ Bất Tử (Đệ nhất Tứ Phủ)

+Ngày mất là ngày mồng 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, thời vua Lê Thánh Tông (1473)

+Được thờ tại Phủ Đại La Tiên Từ, Xã La Ngạn, Huyện Đại An, Phủ Nghĩa Hưng, phủ Quảng Cung, thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, Nam Định.

Rồi trong đêm ngày 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, thời Hồng Đức (1473), trời nổi cơn giông, gió cuốn, mây bay, Bà đã hoá thần về trời. Năm đó Bà vừa tròn 40 tuổi.

Ngay sau khi Bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ. Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của Thánh Mẫu gọi là Phủ Quảng Cung. Người dân tôn Bà làm Phúc thần, với Duệ hiệu là “Lê Triều Hiển Thánh, Tầm Thanh Cứu khổ, Tiên Nga tôn thần.”

– Lần thứ 2:

Cũng vào thời Hậu Lê thời Lê Anh Tông năm 1557

+Tên thật là: Lê Giáng Tiên

+Quê quán: Thôn An Hải, Xã Vân Cát, huyện Thiên Bản, hạt Sơn Nam Hạ, nay là Huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam.

+ Cha là ông Lê Thái Công và mẹ là bà Trần Thị Phúc.

+ Tôn vị là Tứ Bất Tử , Đệ Nhất Tứ Phủ

+Ngày mất là ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu (1577) thời vua Lê Thế Tông.

Vào đúng ngày mồng ba tháng ba (Âm lịch), tuyệt nhiên không bệnh tật gì, nàng hóa, lúc ấy vừa tròn 21 tuổi. Cả hai bên cha mẹ và chồng con đau xót tiếc thương nhưng chẳng có cách gì cứu sống được. Trong nỗi buồn vô hạn, kể cả Lê Thái Công, chẳng ai hiểu được lẽ trời đã sắp đặt rồi.

Bà được nhân dân nhớ ơn thờ cúng tại Phủ Giầy, thôn Thiên Hương-Vân Cát, Xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Cũng vì sớm vội về trời lên bà đau buồn nỗi nhớ chồng thương cha thương mẹ để có lần giáng sinh thứ ba.

– Lần giáng sinh thứ ba Quy Y Tam Bảo:

Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

Lần này Tiên Chúa xuống Phố Cát, huyện Thạch Thành, Thanh Hoá. Ở đây, cũng như những lần trước Tiên Chúa thường hiển linh giúp đỡ người lành, trừng trị kẻ ác. Nhân dân cùng nhau góp của góp công, dựng một ngôi đền để lấy chỗ phụng thờ Tiên Chúa.

Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại. Giữa lúc ấy Phật tổ xuất hiện giải cứu cho Tiên Chúa. Khi vừa thấy Phật tổ, Tiền Quân Thánh liền sững lại, thay vì vậy đã sai quân lính mang đến cho Tiên Chúa một bộ quần áo cà sa và một chiếc mũ ni cô. Tiên Chúa nhận áo mũ rồi thoắt biến lên mây cùng với Phật tổ.

Trong các huyền thoại và truyền thuyết kể trên, có những cái xuất phát từ những thực tế lịch sử, tuy nhiên, không ít trường hợp là kết quả của sự thêu dệt hoang đường, phi thực. Nhưng đó lại là thực tế hiển nhiên, đó là vai trò và vị trí hết sức to lớn của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Thực tế này hoàn toàn có thể lý giải được trên cơ sở xem xét môi trường tự nhiên. đời sống sản xuất, chiến đấu, xã hội cổ truyền của người Việt và các dân tộc khác sinh sống trên đất nước Việt Nam.

2 THEO VÂN CÁT TAM THẾ THỰC LỤC QUỐC ÂM

Theo phần Quốc âm của sách Vân Cát tam thế thực lục thì ba lần tam sinh tam hóa của Mẫu Liễu

hạnh được thể hiện như sau:

雲葛三世實錄國音

—***—

Khi nhàn tựa án thảnh thơi,

Ngẫm xem tam thế luân hồi lạ thay.

Quả tu khéo tại lòng này,

Hoá sinh sinh hoá xưa nay ai tường.

Vẹn sao hai chữ cương thường,

Tiên nhân phật quả lưu phương dõi truyền.

Nhớ xưa ở huyện Đại Yên,

Xã là Trần Xá về miền Nghĩa Hưng.

Đương năm Cảnh Thịnh sơ hưng,

Cải làng Vỉ Nhuế phỏng chừng tam niên.

Thôn Quảng Nạp hiệu Huyền Viên,

Phạm gia tích đức bách niên đã nhiều.

Xưa làm Phó sứ thiên triều,

Khâm sai tra sổ phải điều bất công.

Bút son vâng mệnh đền rồng,

Giáng Trần Xá xã thôn trung đất lành.

Đất này tú khí chung linh,

Lâu đài cổ tích xung quanh cũng kỳ.

Chỉn e tử tức còn trì (chầy),

Trai đàn mong được sau khi nối đời.

Đêm ngày khấn phật cầu trời,

Kim tinh Thái Bạch tới nơi tâu rằng.

Có nhà rày ở dưới trăng,

Thái bà Phạm lão tin nhằm có thai.

Ngọc Hoàng mở sổ ra coi,

Phạm ông ngày trước vốn người thiên cung.

Bởi vì giữ phép không công,

Vậy nên giáng trích vào vòng nhân gian.

Một đời rồi lại tái hoàn,

Nay xin cầu tự thời bàn làm sao.

Có quan Bắc Đẩu Nam Tào,

Sổ cầm chu mặc ghi vào tính danh.

Tâu rằng xin chút gái lành,

Kẻo cơ nghiệp ấy sau dành cho ai.

Đức vua nghe nói êm tai,

Truyền đòi công chúa thứ hai lên chầu.

Khuyên con giáng thế ít lâu,

Hỡi quan văn vũ cùng nhau hiệp bàn.

Tâu rằng đội đức thiên nhan,

Non cao bể rộng khôn toan cưỡng lời.

Công chúa tâu lạy mấy lời,

Hóa sinh sinh hóa kiếp người kiếp tiên.

Kiếp này là kiếp tiền duyên,

Ghi lòng để dạ chép biên đời đời.

Thần thông biến hoá mọi nơi,

Trước Nga Hoàng giáng vốn người tiên cung.

Ngọc nữ thăng lệnh chỉ truyền,

Vâng lời tấu đến điện tiền vua cha.

Khấu đầu lạy trước thềm hoa,

Lạy bà Hoàng hậu chính toà vừa thôi.

Gửi truyền văn vũ mấy lời,

Thờ vua phải giữ lòng thời chỉ trung.

Còn tiên lạy trước ngai rồng,

Tâu rằng cho xuống độ vòng bao nhiêu.

Thấy con nói hết mọi điều,

Bút son đề chữ linh tiêu lên đầu.

Thông minh linh ứng dài lâu,

Tứ phương lai cộng phật đầu Dần niên.

Sênh ca đàn sáo đôi bên,

Dập dìu phượng liễn xuống miền dương gian.

Phạm ông khi ấy thanh nhàn,

Màng màng giấc mộng đoàn đoàn tiên nga.

Khí thiêng sực nức mùi hoa,

Sao mai thấp thoáng trời đà vầng đông.

Thái bà chuyển động tâm trong,

Quế lan ngào ngạt hát sen hồng nở hoa.

Huệ hương dâng khắp đầy nhà,

Giáng sinh mồng sáu tháng ba giờ Dần.

Nhãn quang lóng lánh tinh thần,

Mày ngang vành nguyệt da ngần vóc sương.

Má đào môi hạnh phi phương,

Giá so tố nữ tiên nương khôn bì.

Phú ông xem thấy dị kỳ,

Giáng thần ứng hiện đặt thì Tiên Nga.

Yêu như ngọc dấu như ngà,

Nâng châu rốn bể hứng hoa lưng trời.

Màn the trướng gấm thảnh thơi,

Thâm khuê dưỡng dục khác vời tiên cung.

Ngũ chu thiên tính đà thông,

Thử xem nề nếp cũng dòng phú gia.

Chạnh lòng nghĩ đến gần xa,

Nay tuy đã vậy sau đà sao đây.

Năm lên mười tuổi khôn thay,

Một niềm hiếu thuận nết hay ai tày.

Thung huyên sớm mỏng tối dày,

Quạt nồng đắp lạnh đêm ngày vào ra.

Tôn thân thượng mục hạ hoà,

Lời ăn tiếng nói nhu hoà khoan dung.

Đủ điều ngôn hạnh công dung,

So xem cốt cách khác trong trần này.

Đua chen kẻ tớ người thầy,

Ra vào hầu hạ đêm ngày tựa nương.

Tới tuần tam ngũ phi phương,

Bạn Tần khách Tấn ngổn ngang đầy nhà.

Thái ông ướm hỏi dò la,

Chiêu thân sớm định để già tâm khoan.

Nào ai dưới gối thừa hoan,

Nay con riêng phải lo toan việc nhà.

Chúa rằng đội đức sinh ra,

Ơn đà bể rộng nghĩa đà non cao.

Hổ con chút phận thơ đào,

Hình lâm tử tức tiêm vào phu quân.

Cuộc đời như thể phù vân,

Thân tiên buộc lấy duyên trần làm chi.

Nhớ khi nuôi nấng phù trì,

Nghĩ sao báo đáp ơn nghì cho phu.

Con xin dốc chí đường tu,

Triêu sớm ban tối di du vui cùng.

Mặc ai mối điệp tin ong,

Mặc ai lá thắm chỉ hồng bạn duyên.

Khi xưa phẩm cách người tiên,

Lẽ nào nỡ để hồng liên bùn lầm.

Thái ông nghe nói mừng thầm,

Hay là đức phật Quan âm thân tiền.

Thôi chi nói sự trần duyên,

Dù con trong sạch giá tiên mặc lòng.

Đào viên then khoá kín phong,

Giữ điều trinh tiết kính cung tiên đường.

Vá may canh cửi việc thường,

Rộng ơn thí xả bốn phương dân cùng.

Nền nhân xây đắp dốc lòng,

Khói hương thấu đến cửu trùng cho thông.

Dần dần nhị kỉ ngũ đông,

Thung đường phút đà xe rồng lên chơi.

Ngán thay dưới đất trên trời,

Một người mà gánh hai vai thâm tình.

Báo ơn tứ đức sinh thành,

Gần xa ai kẻ nức danh nữ tài.

Cư tang năm mới được hai,

Huyên đường hạc giá bay khơi lên ngàn.

Thân tiên bao quản tân toan,

Một mình khôn biết rằng bàn sao xong.

Bèn mời lân lý hương trung,

Kẻ thăm người viếng tây đông đầy nhà.

Thôn trung có kẻ lão già,

Thấy người thơ ấu nết na thương vì.

Năm thường dậy sớm luân di,

Hiếu trung hai chữ sau thì ắt nên.

Công chúa quì xuống thưa lên,

Trình rằng ơn nặng dám quên sau này.

Thôn trung thu xếp ra tay,

Hạ tuỳ thượng xướng việc nay chu toàn.

Đưa người yên xuống hoàng tuyền,

Mặc nàng coi sóc báo đền công xưa.

Chăm coi bao quản nắng mưa,

Gọi là chút báo tóc tơ sinh thành.

Thương thay thiên đạo bất bình,

Trăm năm để giận một mình khấu công.

Ba năm lòng những dặn lòng,

Nào ai khuya sớm đà cùng việc đây.

Đến tuần tứ cửu làm trai,

Đại đàn bố thí bẩy ngày bẩy đêm.

Lòng thành thấu đến cửu thiên,

Kim tinh Thái Bạch tâu lên ngai vàng.

Tâu rằng ở dưới dương gian,

Nơi bà công chúa Đại An tâu rày.

Cù lao chín chữ thương thay,

Trông ơn thượng đế xá rày siêu sinh.

Ngọc hoàng việc ấy đã minh,

Đem bộ trắc giáng đế đình mà tra.

Phán rằng đệ nhị Tiên Nga,

Bấy lâu sao vắng đại la quảng hàn.

Triều đình tâu trước thiên nhan,

Tâu còn kỉ nữ tái hoàn tiên cung.

Ngày nay tang tóc đã xong,

Một mình coi sóc ngoài trong xa gần.

Năm qua tháng lại lần lần,

Phong quang đã khác tiền nhân đó rồi.

Công chúa tỉnh giấc bồi hồi,

Tam tinh mộng thấy tới nơi doành doành.

Tâu rằng người ở động đình,

Vâng đem ngọc bảo kim tinh lai phù.

 3 TỔNG HỢP TẤT CẢ CÁC TÍCH VỀ MẪU LIỄU HẠNH QUA CÁC THẦN TÍCH VÀ GHI CHÉP CỦA NHIỀU TÁC GIẢ

Tại thôn An Hải, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản, hạt Sơn Nam Hạ, nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà, có vợ chồng Lê Thái Công là người hiền đức, hay làm việc thiện. Ông bà đã có một con trai, và khi ấy cũng đã đứng tuổi. Đến năm Thiên Hựu, đời Lê Anh Tông, bà vợ có mang đã quá kỳ sinh mà không thấy chuyển dạ, lại không ăn uống, chỉ ưa trong phòng có mùi hoa thơm.

Đêm hôm ấy, gia đình làm lễ, cầu trời khấn Phật, phù hộ độ trì cho mẹ tròn con vuông. Giữa lúc hương hoa tỏa bay thơm ngát, ở trong phòng, Lê Thái Công nằm mơ thấy mình bay lên thượng giới, rồi được dẫn vào một tòa lâu đài nguy nga tráng lệ, ở đó đang diễn ra cuộc Đại khánh tiết, bách thần làm lễ chúc thọ Ngọc Hoàng.

Một tiên nữ vận áo xiêm màu hồng nhạt, từ hậu cung bưng khay rượu bước ra. Vừa đến trước mặt Ngọc Hoàng, trong khi hai tay nâng khay, còn đầu thì khẽ nghiêng và toàn thân nhún xuống, nhưng do làm hơi vội nên đã để một chiếc chén rơi ra … Ngọc Hoàng khẽ chau mày, nhưng rồi trước mặt triều thần, Ngài lại tươi cười nhắc chén rượu thứ hai …

Chỉ có như vậy, nhưng đã là phạm luật. Sau bữa tiệc, hai vị Nam Tào Bắc Đẩu tâu lên, tiên nữ bị giáng xuống trần, trong thời hạn ba năm, mặc dù đó chính là con gái út của Ngọc Hoàng Thượng đế.

Vừa lúc ấy, Lê Thái Công tỉnh giấc. Cũng đúng lúc ấy, người nhà vào báo bà vợ đã sinh một ngườøi con gái. Ba ngày sau, khi nhìn mặt con, thấy nét mặt giống nàng tiên nữ bưng khay rượu trong bữa tiệc chúc thọ Ngọc Hoàng, ông bèn đặt tên cho con là Giáng Tiên.

Ngày tháng qua đi, càng lớn lên Giáng Tiên càng lộng lẫy, xinh đẹp. Mọi việc nữ công gia chánh nàng cũng đều thành thạo. Lại có cả tài cầm kỳ thi họa, vì ông bà cho nàng theo học Trần Công, một người bạn ở làng bên, và càng học lên Giáng Tiên lại càng giỏi giang, tấn tới.

Ông Trần Công là một vị hưu quan ở làng Tiên Hương, cùng trong huyện Thiên Bản. Vợ chồng ông cũng đã đứng tuổi mà chưa có con. Một đêm, nghe có tiếng trẻ khóc ở ngoài vườn, ông bà cùng chạy ra thấy một đứa bé sơ sinh nằm dướùi gốc cây đào. Ông bà đem về nhà nuôi, đặt tên là Đào Lang. Lớn lên Đào Lang là một chàng trai khôi ngô tuấn tú, siêng năng chăm chỉ học hành. Do đã đính ước với nhau từ nhiều năm trước, nên khi Đào Lang và Giáng Tiên đến tuổi trưởng thành, hai bên cha mẹ đã cho đôi trẻ nên duyên vợ chồng.

Về nhà chồng, Giáng Tiên là một người vợ hiền dâu thảo, nói năng khiêm nhường, đối xử có trước có sau. Trong ba năm, nàng sinh được một trai, một gái. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày mồng ba tháng ba (ÂÂm lịch), tuyệt nhiên không bệnh tật gì, nàng hóa, lúc ấy vừa tròn 21 tuổi. Cả hai bên cha mẹ và chồng con đau xót tiếc thương nhưng chẳng có cách gì cứu sống được. Trong nỗi buồn vô hạn, kể cả Lê Thái Công, chẳng ai hiểu được lẽ trời đã sắp đặt rồi.

Giáng Tiên, nàng tiên nữ đã về trời, đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con. Những ngày hội quần tiên, những lúc quây quần bên chị bên em cùng bạn bè, bỗng nhiên nàng lại nét mặt sa sầm, rồi lén gạt thầm dòng nước mắt …

Những cử chỉ ấy, cuối cùng rồi cũng đến tai Ngọc Hoàng. Ngài cho gọi nàng lại để nghe nàng giãi bày tâm sự và thỉnh cầu ước nguyện. Khi thấu hiểu, Ngài cho nàng được phép trở lại cõi trần, nhưng đổi tên là Liễu Hạnh.

Khác với lần đi đày trước, lần này do tự nguyện, nên trong lòng nàng hoàn toàn thư thái, vui vẻ, chỉ mong sao cho chóng xuống trần. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng.

Đào Lang, từ ngày vợ mất, vẫn ngày đêm thương nhớ không khuây. Liễu Hạnh đẩy cửa bước vào, gặp nhau vợ chồng con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây … Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Dòng giã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Từ đó, tung tích của nàng như mây nổi, nước trôi,không nhất định ở một nơi nào cả. Nàng biến hóa và có phép nhiệm mầu như thần như thánh, bởi vì nàng cũng chính là thần thánh.

Có khi nàng là cô gái đẹp vừa đi vừa thổi sáo dưới ánh trăng.

Có khi nàng là bà lão đầu tóc bạc phơ, ngồi tựa cây gậy trúc ở bên đường.

Có khi nàng là người bán hàng, mở quán trên lưng đèo.

Lại có khi, như mọi người, nàng đi thăm viếng, vãn cảnh chùa chiền …

Người nào giở thói trăng hoa, hoặc làm điều bạc ác, nàng thẳng tay trừng trị.

Tiếng lành đồn xa, tiếng “dữ” cũng đồn xa … Ở khắp mọi nơi, mọi người thi nhau bàn tán về tung tích, hành vi của nàng. Câu chuyện càng ngày càng được thêu dệt thêm mãi, hư hư thực thực. Và ai ai cũng đều nghiêm trang, kính cẩn gọi nàng là Tiên Chúa.

Lần ấy, Tiên Chúa đang hóa phép thành cô gái, mở quán bán cho khách bộ hành ở chân đèo Ngang (thuộc Quảng Bình). Lời đồn đại về một cô gái nhan sắc tuyệt vời bỗng đâu xuất hiện ở nơi đèo heo hút gió, làm cho mọi người hết sức ngạc nhiên. Rồi chỗ nào cũng thấy thì thào bàn tán. Chẳng mấy chốc, lời đồn đại cũng tới tận Kinh đô !

Hoàng tử sắp kế nghiệp, vốn là một chàng trai lười biếng học hành nhưng lại ham chơi bời phóng túng. Có khi còn làm cả những việc khinh mất chẳng giữ gìn đến thể diện quốc gia.

Khi hay tin đồn có người con gái tuyệt vời, Hoàng tử ngày đêm ao ước, đứng ngồi không yên. Nghĩ rằng mình là Hoàng thái tử, ở ngôi Đông cung, sắp tới sẽ được kế vị ngai vàng, thì chẳng lẽ lưu vật ấy còn dành cho ai nữa? Nếu không đến mau, e rằng nàng đã thành gia thất thì thật uổng phí … Thế là, Hoàng tử giấu bặt vua cha, chọn một đoàn bộ hạ tin cẩn rồi lặng lẽ rời khỏi kinh thành, nhằm về hướng nam thẳng tiến. Ngày đi, đêm đi, chỉ dừng lại những khi thật mệt nhọc, chẳng mấy chốc đoàn người ngựa đã gần tới chân đèo Ngang.

Ở nơi mở quán, Tiên Chúa bấm độn đã biết có Hoàng tử đang đến tìm mình, lại cũng biết đó là một chàng trai vô vị, tầm thường, kiêu căng mà hiếu sắc.

Để răn đe trước, Tiên Chúa hóa phép biến thành cây đào mọc ở bên đường, ngay chỗ Hoàng tử đang dừng chân. Trên cây chỉ có một quả đang chín mọng.

Vừa chợt thấy quả đào, Hoàng tử tưởng là của trời cho, không đợi sai lính hầu, vội trèo ngay lên cây ngắt xuống. Quả đào ửng đỏ, thơm phức, vừa cầm trên tay, Hoàng tử đã vội đưa ngay lên miệng. Bỗng đâu, chỉ trong chớp mắt, quả đào nhỏ dần rồi biến mất, ngay trên tay Hoàng tử. Bọn lính hầu thấy vậy kinh hãi kêu lên, còn Hoàng tử cũng mặt cắt không còn giọt máu. Sau cơn bàng hoàng, cả bọn lại hò nhau lên đường, hoàn toàn không hiểu tý gì về ngầm ý răn đe mà Tiên Chúa đã báo trước.

Khi giáp mặt cô chủ quán, cả thầy lẫn tớ đều thảng thốt thẫn thờ. Thật danh bất hư truyền, chưa bao giờ Hoàng tử thấy một người con gái nào đẹp đến như thế. Và cũng chưa bao giờ chàng ta lại mê mẩn cuồng si đến như thế.

Hoàng tử hạ lệnh cho quân lính dừng chân, rồi gọi đồ ăn thức uống loạn xị. Cố tình trưng ra quần áo bảnh diện và những cọc tiền vàng óng. Lại cố tình ăn uống khề khà cho thật chậm thật lâu, cốt sao kể kéo đến tận chiều tối. Rồi khi mặt trời tắt hẳn, cả bọn mới giả bộ ngây ngô, nói rằng trời tối thế này thì đi làm sao được.

Một tên vò đầu bứt tai, xun xoe đến gần cô chủ quán:

– Xin cô vui lòng cho chúng tôi nghỉ lại trong quán một đêm nay, tiền nong hết bao nhiêu chúng tôi cũng chẳng ngại …

Tiên chúa, thừa rõ tâm tư của cả bọn này, bèn tươi cười đáp:

– Ấy chết, các ông là những người quý phái, nghỉ lại đấy sao tiện. Chỉ đi nửa dặm nữa là có xóm có làng, có dân phu phục dịch. Ở đây vừa mất tiền vừ chật chội. Vả lại quán chúng tôi là phận đàn bà con gái, không nhận trọ khách đàn ông bao giờ.

Nghe thấy thế, Hoàng tử đứng bật dậy, saÜng giọng:

– Đàn ông với chẳng đàn bà. Đã là quán hàng, chẳng nơi nào có sự phân biệt như thế. Trời tối rồi, chẳng lẽ để chúng ta ngủ ở giữa đường hay sao? Quân bay, cứ vào dọn dẹp.

Tiên Chúa lặng thinh không nói gì. Tưởng chủ quán hoảng sợ, Hoàng tử liền đổi giọng, vừa nói vừa vỗ vỗ vào túi tiền lớn mà tên lính hầu vẫn đeo bên mình:

– Xin cô đừng lo. Chỉ một đêm nay cô cũng kiếm được bằng mấy năm mở quán.

Tiên Chúa bỏ vào phòng trong, không muốn nghe nữa.

Ở phòng ngoài, bọn lính hầu thu dọn các thứ vào một góc rồi quây màn trướng cho Hoàng tử nghỉ. Còn bọn chúng thì nằm la liệt quanh quán.

Khi ấy, đang tiết tháng tám, trời thu mát mẻ, và ở giữa chân đèo thoáng đãng, trăng gió lại như khách hữu tình. Hoàng tử sai bày tiệc rượu rồi năn nỉ mời chủ nhân ngồi đối ẩm. Tiên Chúa, phần vì không muốn để người của triều đình mất thể diện, phần thì cũng muốn thử xem bọn này còn định giở trò gì, nên cũng nhận lời. Dưới ánh đèn, vừa uống rượu Hoàng tử vừa huyên thuyên, khoe khoang đủ mọi thứ chuyện. Nào là nay mai sẽ lên ngôi Thiên tử. Nào là gấm vóc bạc vàng sẽ chẳng thiếu thứ gì. Nào là ai mà được ở ngôi Hoàng hậu thì sẽ là người diễm phúc …

Tiên Chúa im lặng lắng nghe, thỉnh thoảng lại gật đầu ra ý tán thưởng, mặc dù đã cười thầm trong bụng. Thấy vậy, Hoàng tử tưởng “nàng” đã xiêu lòng, liền hoa chân múa tay rất là đắc ý, rồi bất thình lình, ôm gọn cô chủ quán vào trong lòng. Tiên Chúa bừng bừng nổi giận, gạt phắt Hoàng tử ra, chạy thẳng vào trong buồng. Hoàng tử loạng choạng đứng dậy, và trong cơn si cuồng rồ dại, cũng chạy vào theo.

Chỉ trong chớp mắt, Tiên Chúa đã phi thân lên núi, bắt ngay một con khỉ cái mang về. Lại hóa phép cho nó thành một cô gái cực kỳ xinh đẹp, còn mình thì biến đi.

Ở trong buồng, lúc đầu Hoàng tử chẳng nhìn thấy gì, sau một hồi mắt đã quen với bóng tối, mới lờ mờ nhận thấy “cô gái” đang ở trong góc, bèn nhảy tới, ôm ghì lấy rồi đè xuống. Đúng lúc ấy, “cô gái” lại biến thành con khỉ, do Tiên Chúa đã hóa phép. Hoàng tử kinh hãi rụng rời, kêu rú lên một tiếng thảm thiết, rồi ngã vật ra, bất tỉnh nhân sự.

Bọn lính hầu ở bên ngoài nghe tiếng rú, tưởng cậu chủ bị hại liền bật cả dậy, xông thẳng vào buồng. Có tên còn giật vội mấy mẩu nến đang cháy ở bàn tiệc, để soi cho rõ. Trước mặt chúng, cảnh tượng bày ra mới khiếp hãi làm sao. Con khỉ cái miệng rộng đến tận mang tai, nhe hai hàm răng trắng ởn, đang cười lên khành khạch. Rồi vụt một cái, khỉ lại biến thành con rắn hổ mang, bạnh cổ, thè lưỡi phun ra phì phì … Rắn hổ ngạo nghễ trườn lên người Hoàng tử, rồi trườn lên vách, vươn lên xà nhà, đi mất …

Trong bọn lính hầu, nhiều tên cũng ngất xỉu. Còn lại những tên cứng bóng vía nhất, sau cơn bàng hoàng, vội vực Hoàng tử dậy và lay gọi những tên kia. Chúng nháo nhào cả lên, hà hơi, đánh gió, xoa dầu … hàng tiếng đồng hồ sau Hoàng tử mới tỉnh lại.

Ngay nửa đêm hôm đó, bọn lính hộc tốc đưa Hoàng tử về trạm gần nhất, rồi từ đấy, ngày đi đêm nghỉ, đưa chàng ngược trở lại Kinh đô . Về tới hoàng cung, Hoàng tử đã trở thành một kể ngẩn ngơ, điên điên dại dại … Cả Hoàng triều bối rối, lo sợ. Tìm thầy tìm thuốc có đến cả tháng mà bệnh tình Hoàng tử vẫn không thuyên giảm. Kịp có viên Đại thần người gốc xứ Thanh Hóa đến báo: ở quê có tám vị Kim Cương bùa pháp cực giỏi có thể chữa được bách bệnh, cho người vào xin thì mới cứu được.

Một ngàn năm về trước Phật Bà Quan Âm một lần hiện ra ở biển Đông, hóa phép thành hai cái túi, một ở giữa biển, một ở trên núi Ó thuộc làng An Đông đều ở xứ Thanh. Sau thời gian rất lâu, hai túi nở thành hai đóa hoa, và từ mỗi đóa hoa, lại hiện ra bốn vị thần tướng đều có phép thuật biến hóa thật là huyền nhiệm. Theo lệnh Phật Bà, tám vị thần tướng tỏa đi tám hướng, thân chinh mang thuật pháp tiểu trừ bọn tà ma vẫn đang lẩn quất sách nhiễu trong vùng. Khi bọn tà ma bị diệt, Phật Bà lại triệu hồi họ về chỗ cũ. Người trong vùng vẫn quen gọi là Bát bộ Kim Cương.

Lập tức một bọn thị vệ được lệnh nhà vua trở vào Thanh Hóa để xin bùa phép. Nhờ có bùa phép, Hoàng tử dần dần khỏi bệnh. Sau khi bình phục, Hoàng tử cúi đầu nhận tội trước vua cha, và kể lại sự việc xảy ra ở chân đèo Ngang, tuy nhiên cũng đã tìm cách nói sao để giảm nhẹ lỗi lầm của mình. Nhà vua, vốn sẵn cảm tình với bà phi sinh ra Hoàng tử thứ hai, nên chẳng ngại ngần truất ngôi Đông cung của Hoàng thái tử và lập con thứ lên thay. Tuy vậy, tay đứt ruột xót, lại căm giận một kẻ tiện dân mà dám động vào người Hoàng tộc, nên trong bụng nghĩ phải quyết ra tay diệt trừ.

Vì nghe câu chuyện có vẻ lạ lùng nên nhà vua chẳng dám khinh xuất, bèn cho tên tướng thân tín cùng một tốp lính đi điều tra nội vụ. Một tháng sau, viên tướng trở về tấu trình ngọn ngành mọi chuyện. Nhà vua, vốn là bậc cao kiến, nghĩ rằng chỉ có các Pháp sư và Phù thủy cao tay mới có thể diệt trừ được kẻ “yêu nữ” này.

Các Pháp sư và Phù thủy lừng danh trong nước lập tức được lệnh triệu hồi về kinh, dẫn sĩ tốt đi chinh phạt. Chẳng bao lâu sau, những kẻ sống sót đều phải quay về, nạp mình trước sân rồng hoạch tội, vì chẳng những không bắt được nữ chủ quán mà lại còn bị đánh cho tan tác, tơi bời. Bất đắc dĩ, nhà vua phải cầu cứu đến tám vị Kim Cương. Tám vị này, vốn là những bậc tu hành, chẳng mặn mà gì đến chuyện đánh dẹp của triều đình, lần trước có cho bùa phép thì chẳng qua chỉ là muốn cứu vớt một kẻ nạn nhân mà thôi.

Nhà vua phải cho đại thần mang lễ vật đi lại nhiều lần mới thỉnh cầu được họ.

Các vị Kim Cương, sau khi nhận lời, bèn phi thân tới đèo Ngang.

Sau khi bài binh bố trâïn xong, họ dụ Tiên Chúa vào giữa, rồi từ tám hướng tiến vào đánh.

Ở giữa vòng vây, Tiên Chúa chẳng hề nao núng, ứng phó cực kỳ linh hoạt. Các phép thuật của các vị Kim Cương đều bị mất hiệu lực. Cây đổ, đá lăn, thú dữ nhe nanh múa vuốt cũng không làm hại được Tiên Chúa. Thoắt biến rồi thoắt hiện, các phép thuật của các vị Kim Cương đều như nhằm vào chỗ không người, nhiều khi lại nhầm vào nhau, tự gây ra thiêït hại. Tiên Chúa thản nhiên như thường còn các vị Kim Cương càng lúc lại càng thấm mệt. Khi đã núng thế, một vị bay vút lên trời, đi cầu khẩn Đức Phật, xin một cái túi, nói là để bắt yêu tinh vừa mới xuất hiện. Đức Phật lúc ấy đang bận, nên đã vô tình ném túi cho.

Nhờ cái túi thần, cuối cùng các vị Kim Cương đã lừa bắt được Tiên Chúa. Họ đưa Tiên Chúa về kinh, trình trước sân rồng. Nhà vua sai thiết triều rồi xét hỏi:

– Nhà ngươi là ai?

– Muôn tâu … Tiên chúa đáp. Tôi là con gái út của Ngọc Hoàng Thượng Đế, xuống trần làm người mở quán bán hàng.

– Mở quán bán hàng thì cớ sao lại làm hại đến Hoàng tử?

– Thưa … ở đời có lửa thì ắt có khói, có nhân ắt có quả. Tôi chỉ trừng trị kẻ nào làm điều bất thiện mà thôi. Nếu đấy là Hoàng tử thì lại càng phải xử công minh để làm gương cho bàn dân thiên hạ, như vậy mới là đúng với phép nước.

Nhà vua thấy không còn gì hỏi được nữa, nhưng cũng chẳng thể để mất thể diện quốc gia, bèn để nét mặt ra vui tươi, rồi hỏi:

– Công nương nói chí phải. Ta đã có chiếu trách phạt Hoàng tử rồi. Nay chỉ muốn hỏi công nương cho rõ mọi chuyện mà thôi.

Sau khi nghe Tiên Chúa kể lại hành vi của Hoàng tử, Nhà vua đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt, nói lời cảm tạ rồi chúc Tiên Chúa lên đường may mắn …

Tiên Chúa không trở lại chân đèo Ngang nữa, mà lại vân du theo hướng Bắc, đến miền xứ Lạng, là nơi có nhiều phong cảnh đẹp. Các động Tam Thanh, Nhị Thanh … là nơi Tiên Chúa thường hay thăm viếng. Một lần đang trên đường, Tiên Chúa gặp đoàn sứ do Phùng Khắc Khoan dẫn đầu đi sứ sang Trung Hoa. Gặp người con gái đẹp, xưa nay chưa từng thấy bao giờ, ông chánh sứ cảm kích ứng khẩu đọc liền một bài thơ tứ tuyệt. Nào ngờ nghe xong,Tiên Chúa cũng ứng khẩu đọc luôn mấy câu thơ đối lại. Các vị trong đoàn sứ bộ thảy đều ngạc nhiên, và cảm phục vì tài đối đáp, vì lời thơ vừa trang nhã lại đầy ý tứ. Thế là họ bảo nhau dừng chân mấy ngày ở trạm nghỉ, rồi mời Tiên Chúa ở lại cùng nhau xướng họa đề thơ. Khi hỏi lai lịch, nơi ở, Tiên Chúa chẳng nói năng gì mà chỉ đọc lên một bài thơ đố. Phùng Khắc Khoan vốn là người nhanh trí, hiểu rằng người con gái này chẳng phải người thường, bèn đọc một bài thơ hẹn gặp lại, sau khi đoàn sứ trở về.

Nhớ lời hẹn, một năm sau Tiên Chúa có mặt ở vùng Hồ Tây ngay bên cạnh kinh thành. Khi ấy Phùng Khắc Khoan đã hoàn thành sứ mạng trở về, cùng hai người bạn là ông Ngô, ông Lý đang đi vãn cảnh. Họ gặp nhau mừng rỡ, chuyện trò, rồi lại đề thơ, xướng họa như xưa. Cả ba người, là những bậc tài danh đương thời, đềâu hết lòng thán phục tài thơ của Tiên Chúa vừa thanh cao, lại vừa huyền nhiệm, không lời nào có thể nói hết được.

Sau khi từ biệt ba nhà thơ, Tiên Chúa vân du vào làng Sóc, thuộc tỉnh Nghệ An ngày nay, cũng là một nơi có phong cảnh đẹp. Ở làng này hiện đang có một chàng thư sinh tuy cha mẹ mất sớm, nhà lại rất nghèo, nhưng vẫn ngày đêm miệt mài kinh sử. Tiên Chúa biết chàng chính là hậu thân của Đào Lang ngày trước, bèn biến thành một phụ nữ, lúc đầu đến giúp đỡ, rồi sau đó kết duyên vợ chồng. Hai bên yêu nhau, chẳng cần phải có người mối lái. Nàng giúp cho chàng yên tâm chuyên cần vào việc đèn sách, chẳng phải lo nghĩ gì đến chuyện sinh nhai, thế rồi khi nhà vua mở khoa thi, chàng đã đỗ đại khoa và được bổ vào Hàn Lâm viện. Nàng sinh cho chàng một đứa con trai, thật là đẹp đẽ kháu khỉnh. Nhưng tình duyên của họ cũng chẳng được lâu dài. Khi đứa con vừa tròn năm tuổi thì người mẹ đột ngột qua đời, vì chính lúc đó Tiên Chúa có lệnh gọi của Ngọc Hoàng, phải về trời gấp. Người chồng đau xót, cùng lúc nỗi đau càng như xé ruột xé gan. Chàng chẳng nghĩ đến chuyện tục huyền, cũng chẳng nghĩ đến chuyện cửa công. Thế là chàng xin từ quan, lui về quê nuôi đứa con côi, vui thú với cây cỏ sông nước, và giữ mãi trong lòng những kỷ niệm ngọt ngào của mối tình đầu.

Về phần mình, ở trên trời, Tiên Chúa cũng không sao quên được cõi trần. Lúc nào Tiên Chúa cũng thấy lẻ loi giữa cảnh phồn hoa đô hội. Trong tâm trí Tiên Chúa, lúc nào cũng như in mọi cảnh dưới trần, và cùng với nó, là cảm xúc càng lúc càng thêm bồi hồi da diết. Ôi! Cõi trần gian, nơi nhiều nỗi vất vả lo toan mà sao lại thân thương thiết tha đến thế! Dưới cõi trần, còn bao nhiêu điều chưa thấy, bao nhiêu nơi chưa biết, bao nhiêu việc chưa làm! Những miền danh lam thắng cảnh vẫy gọi, những bậc hiền tài cần tiếp kiến, rồi cả những nỗi khốn khó cô đơn, những điều bất công ngang trái … Tất cả đều cần phải có bàn tay của Tiên Chúa đưa ra giúp rập, bù trì …

Thế là Tiên Chúa khẩn thiết xin với vua cha cho trở lại cõi trần gian và được ở lại vĩnh viễn, vì cả hai lần trước đều nửa đường đứt gánh, mới dở dang đau xót làm sao!

Ngọc Hoàng Thượng Đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài nhìn đứa con gái út, một khúc ruột, một phần xương thịt của mình dứt ra mà nay đã đến lúc trưởng thành, để có thể thay mặt mình ở dưới cõi trần được. Mặc dù tình cha con là thiêng liêng, là vô cùng quyến luyến, nhưng Ngài đã vui vẻ chấp thuận cho nàng ra đi, vì nghĩ rằng đó là cách tốt nhất để những chủ trương ở trên trời của mình có thể thực thi ở cõi thế. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với nàng, vừa để giúp đỡ, vừa để cho có bầu có bạn.

Lần này Tiên Chúa xuống thẳng miền phố Cát. Ở đây, cũng như những lần trước Tiên Chúa thường hiển linh giúp đỡ người lành, trừng trị kẻ ác. Khi là cô gái thổi sáo, khi là bà lão chống gậy, khi là một người hành hương đến cửa Phật … hành tung của Tiên Chúa biến hóa thật khôn lường. Thế là trong dân chúng lại nảy sinh những lời đồn đại, rồi mọi người cùng nhau góp của góp công, dựng một ngôi đền để lấy chỗ phụng thờ Tiên Chúa.

Những ngày tuần ngày tiết, dân chúng các nơi nô nức tìm về, đông vui nhộn nhịp xung quanh ngôi đền. Mọi người ai cũng muốn một lần được chứng kiến sự hiển linh của Tiên Chúa.

Lời đồn đại và những sự việc ấy, lan ra mãi, cuối cùng đã tới Kinh đô , lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì trong cõi trị vì của họ không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến Kinh đô , giao cho dẫn một một đội quân Vũ lâm hùng mạnh, đến thẳng miền phố Cát để đánh dẹp.

Một trận giao chiến ác liệt đã diễn ra. Bên Tiên Chúa đền đài bị phá tan tành nhưng bên phía triều đình cũng bị thất điên bát đảo, xác lính chết ngổn ngang, cuối cùng đành phải rút quân.

Vua Lê chúa Trịnh vô cùng tức giận vì không bắt được “yêu nữ” đem về. Nghe lời các thuật sĩ, hai vị cho vời tiền quân Thánh là một thuật sĩ tài danh bậc nhất đương thời để làm chủ tướng.

Lại nói Tiền quân Thánh vốn là một thân tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị dáng xuống làm con trai thứ ba của một vị Thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng, một phái tu nổi tiếâng lúc bấy giờ. Hai người anh là Tả quân và Hữu quân đều có pháp thuật cao cường, tu ở núi Côn Sơn, còn Tiền quân thì tu ngay tại làng, tức làng Từ Minh ở Thanh Hóa, và có nhiều pháp thuật cao cường hơn cả.

Vốn trước kia cha ông họ là những viên quan lại, đã từng ăn lộc triều đình, nên bây giờ, mặc dù không muốn, cả ba anh em vẫn phải cầm quân ra trận. Tiền quân đi trước, còn hai người anh đi ở hai bên.

Đến Tam Điệp, Tiền quân sai đóng quân lại, còn mình cải trang làm một dân thường, cỡi ngựa trắêng đến Sòng Sơn gặp Tiên Chúa vì lúc này Tiên Chúa đã rời Phố Cát về đây. Vốn đã quen biết từ trên Thiên đình, nên khi gặp, Tiền quân làm ra vẻ hết sức thân mật, tự nhiên:

– Đi ngang qua đây, nghe sắp có giao chiến chẳng biết phải trái thế nào. Ta chỉ sợ nàng sức gái không đủ đối phó nên hạ sơn xem liệu có thể giúp đỡ được việc gì chăng? Thuật pháp của nàng thế nào hãy để ta xem, nếu thiếu ta sẽ dạy thêm cho.

Tiên Chúa tin lời Tiền quân nói là thật, hoàn toàn không biết đến việc Tiền quân do mắc lỗi mà phải xuống trần … cho nên đã giở tất cả các pháp thuật ra cho Tiền quân xem. Xem xong, Tiền quân làm ra vẻ hết sức vui mừng sửng sốt:

– Thật là tuyệt! Như thế này cũng đã thừa đủ rồi, ta chẳng cần phải dạy thêm cho nàng điều gì nữa!

Nói xong liền biến đi ngay. Thấy thế Tiên chúa cũng hơi chột dạ.

Tiền quân thánh trở về nơi hạ trại, cùng hai anh bàn nhau cách xuất quân, rồi ngay đêm ấy tiến đánh.

Tiên Chúa lúc đấy cùng Quỳnh Hoa, Quế Hoa đang nằm nghỉ, nghe tiếng quân lính reo hò, biết ngay là có biến , bèn bật dậy nai nịt gọn gàng, hóa phép thành trùng trùng rào gai vây quanh Sòng Sơn, lại hóa phép thành muôn ngàn quân sĩ giáo mác cung tên saÜn sàng nghênh chiến. Khi trông thấy Tiền quân thánh ở phía đối diện, Tiên chúa vừa khinh bỉ vừa tức giận vô cùng. Chẳng ngờ đường đường một vị thần tướng trên trời lại đi đầu quân đánh nhau vì một lũ vua chúa tham lam ở dưới trần, chẳng những thế, lại còn giở trò hèn hạ lường gạt cả tiên nữ.

Những thuậât pháp của Tiên Chúa tung ra đều hết sức nhiệm màu, và Tiền quân Thánh, mặc dù đã biết trước, cũng phải đối phó thật là chật vật. Tuy vậy bên phía Tiền quân Thánh, do có hai người anh trợ lực, lại quân lính đông hơn, nên dần dần đã bao vây được Tiên Chúa. Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc lóng lánh, múa lượn trên không …

Tiền quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Thế là Tiên Chúa bị bắt, rồi bị biến nguyên hình trở lại. Tiền quan sai lính mang dây đồng tới trói …

Giữa lúc ấy Phật tổ bỗng nhiên xuất hiện. Tuy ngồi ở nơi tu thiền nhưng ngài biết rõ mọi chuyện. Ngài có mặt là để giải cứu cho Tiên Chúa, Ngài xét thấy, phần lớn đều phù hợp với tâm nguyện của Ngài.

Khi vừa thấy Phật tổ, Tiền quân Thánh liền sững ngay lại, thay vì dây đồng đã sai quân lính mang đến cho Tiên Chúa một bộ quần áo cà sa và một chiếc mũ ni cô. Tiên Chúa nhận áo mũ rồi thoắt biến lên mây cùng với Phật tổ.

Ở Kinh đô lúc này vua Lê chúa Trịnh đang buổi thiết triều, thấy quân về báo tin thắng trận thì mừng rỡ vô cùng: Thế là từ nay có thể thở phào nhẹ nhõm!

Mấy tháng sau hai vị vua chúa lại nhận được tin ở miền phố Cát, Tiên Hương và Sòng Sơn đang xảy ra nạn dịch. Trâu bò gia súc chết ngổn ngang, người ốm lăn lóc. Chẳng có người chăm sóc nên đồng bãi tiêu điều, côn trùng thả sức phá hoại …

Nạn dịch này, từ trước đến nay, từ vua chúa cho đến dân thường cho là Tiên Chúa gây ra, để trả thù cho lần thất bại. Sự thực thì hoàn toàn không phải thế . Đấy là cái nạn dịch luôn đi kèm sau mỗi cuộc chiến tranh. Bao giờ cũng vậy, khi sức người đã cạn kiệt, lại đói ăn khát uống và làm việc quá sức rồi nguồn nước và không khí hôi rình xác tử thi, thì lẽ dĩ nhiên, bệnh dịch sẽ phải phát sinh ra nhiều. Có trách là trách những kẻ gây ra chiến tranh phi nghĩa, chứ chẳng nên trách những người tự vệ.

Thế nhưng, do tin là để Tiên Chúa mất lòng đã gây ra bệnh dịch nên Nhà vua đã ra lệch cho quan sở tại xây lại đền thờ ở các miền phố Cát, Tiên Hương và Sòng Sơn. Dân chúng khi biết tin này cũng nhiệt liệt hưởng ứng, góp công góp của. Thế là, chẳng mấy chốc ở những nơi này đền đài mọc lên, bề thế nguy nga chẳng kém gì nơi cung vua phủ chúa, xứng đáng với công sức của Tiên Chúa và cũng xứng đáng với niềm tin yêu tin cậy của mọi người.

Tại các nơi ấy, hàng năm vào dịp hội hè và các ngày lễ tết, người dân các nơi lại náo nức tìm về, mang lễ vật hương hoa tưởng niệm Tiên Chúa và cũng là mong Tiên Chúa năng hiển linh, phù hộ đôï trì. Và bao giờ cũng vậy trong các ngày hội, sau phần lễ tế, đều có các trò vui chơi dân giã.

Các triều vua về sau, mỗi khi mang quân xuất chinh, hay làm việc gì hệ trọng cũng đều cử Đại Thần về đây tế lễ, cầu xin và hậu tạ sau khi công quả toại nguyện. Càng ngày các nơi ấy càng trở nên linh thiêng và thành niềm tin bền vững trong lòng mọi người. Sắc thượng phong của triều Lê, đặt hiệu của Tiên Chúa là “Mã Hoàng công chúa”, rồi về sau, thấy cầu được ước thấy, bèn đặt thêm là “Mã Hoàng công chúa Chế thăng hòa diệu Đại vương”.

Chẳng những ở ba nơi kể trên, mà các nơi khác: Đèo Ngang (Quảng Bình), Xứ Nghệ, Xứ Lạng và Tây Hồ (ven sát kinh thành) …, những nơi trước kia đã từng lưu dấu Tiên Chúa, dân chúng cũng lập đền thờ tưởng niệm. Tùy khả năng và phong tục của mỗi nơi, chỗ thờ tự và lễ vật có thể khác nhau, nhưng thảy đều xuất phát từ lòng biết ơn và sự cầu mong chân thành.

Còn những nơi Tiên Chúa chưa từng đặt chân đến, mọi người cũng cầu mong có dịp nào đó Ngài sẽ giáng lâm, và do vậy, khắp các làng quê, ở đâu cũng lập điện thờ. Điện thờ được lập ở mé bên hoặc mé sau Phật điện là nơi thờ Phật.

Nhân dân kính cẩn gọi Tiên Chúa là Thánh Mẫu, nhưng nhiều khi giản dị và dân giã hơn, gọi Tiên Chúa là Mẫu Liễu.

Mẫu Liễu là niềm tin, là sự cầu mong của tất cả mọi người. Mẫu cũng chính là lương tâm, là sự toàn thiện mà tri giác của con người cần phải vươn tới.

4 KẾT

Trong cuộc sống chúng ta có quá nhiều nỗi lo âu, phức tạp. Mọi cái đó nó cản trở sự mưu sinh, sự tiến thân trong cuộc đời mỗi con người. Để khắc phục nó thì chúng ta thường tìm đến các tôn giáo, các đạo giáo, các tín ngưỡng…Mỗi người đều chọn cho mình một tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau để làm mục đích vươn lên và cải thiện mình. Tất cả các tôn giáo và tín ngưỡng trên thế giới đều được con người tạo nên cả. Như phật giáo là do hoàng tử Tất Đạt Đa, Nho giáo của Khổng Tử, tín ngưỡng Đức Thánh Trần của cụ Trần Hưng Đạo, tín ngưỡng Thiền Trúc Lâm của cụ Trần Nhân Tông… Và mọi tôn giáo tín ngưỡng đều hướng con người đến Chân, Thiện, Mỹ. Vì vậy chúng ta đều là con dân nước Việt, mà đã là con dân nước Việt thì không thể không biết đến truyền thống ông cha, cội rễ ông cha chúng ta để lại, đó là việc thờ cúng tổ tiên.

Thờ cúng tổ tiên tức là thờ cúng những người đã tạo ra ta từ đời này qua đời khác. Người Việt Nam tự hào là con hồng cháu lạc, con Rồng cháu Tiên. Đã là con dân nước Việt mấy ai không biết về truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ mấy ai không biết Đức Thánh Gióng, mấy ai không biết đến đức thánh Tản Viên và Chử Đồng Tử, ai không biết đến các thánh Mẫu như Liễu Hạnh công chúa và Đức Thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương… Họ là những bậc nhân thần, nói theo cách của cổ nhân là bậc Sinh Vi Lượng Tử Vi thần ( sống thì anh linh chết thì hiển thánh).

Các tín ngưỡng trên đều thuần Việt do người Việt ta sáng lập ra. Với truyền thống nhớ ơn những người có công giúp dân cứu nước mà chúng ta thường lập lên các đền thờ họ thì đó cũng là chúng ta nhớ đến tổ tiên của chúng ta. Một truyền thống, một tín ngưỡng và có thể là một tôn giáo mà cho mình gọi là Việt Nam Nội Đạo ấy có thể được đánh giá sánh ngang với các tôn giáo khác trên thế giới, vậy tại sao ta không chân trọng nó, không gìn giữ nó, đó là những gì ta cần phải xem sét lại chính chúng ta cổ nhân đã dạy ” Tiên trách kỷ Hậu trách nhân” ( có trách ai thì hãy trách mình trước đã ). Vậy mà cùng là người Việt Nam, cùng máu đỏ da vàng, chúng ta chỉ đấu đá chê bai lẫn nhau rồi đi vạch áo cho người ta xem lưng mình, vậy là đẹp đạo hay sao? Phàm làm người thì lấy cái Nhân, cái Đức làm gốc để mà sống cho đẹp đời đẹp đạo, người xưa nói ” Gieo nhân nào gặt quả ấy” cũng như các bạn gieo cây bưởi thì được quả bưởi chứ các bạn không thể gặt quả Mít quả Na được, cuộc đời cũng vậy có nhân có quả ở hiền gặp lành ở ác thì gặp ác, hại nhân thì nhân hại…. Đừng tưởng nó trưa xảy đến mà cứ thoải mái làm ác hại dân hại nước cầu lợi bất chính. Đời các bạn có thể không bị nhưng đời con, đời cháu sẽ phải gánh chịu những hậu quả mà bạn gây ra. Chúng ta chỉ có một kiếp người hãy sống sao cho tròn ý nghĩa để nhỡ có xuôi tay thì nhắm mắt thanh thản ra đi mà chẳng có gì phải hối tiếc cả. Vậy mà bây giờ mình thấy thật nhố nhăng cùng người theo một tín ngưỡng thì đi moi móc lẫn nhau, ganh tỵ tìm mọi cách hạ thấp danh dự của nhau, các bạn làm như vậy các bạn được gì? Các bạn làm như vậy các bạn có thấy hạnh phúc hơn không các bạn có thấy mình tốt đẹp lên không? Và các ông thánh, các cha, mẹ có dạy các bạn làm vậy không?

Tín ngưỡng tứ phủ lấy việc thờ Cha Mẹ làm chủ họ là những người có công với nước giúp dân an cư lập nghiệp đánh đuổi tà ma giặc cướp bảo vệ chúng ta mà Bà Liễu Hạnh là tấm gương và được coi là Đạo chủ của tín ngưỡng, bà là tấm gương sáng về “Tam Tòng Tứ Đức” với ba lần giáng sinh cũng chỉ để cho trọn tình trọn nghĩa trọn đạo làm người, chúng ta coi người là Thánh Mẫu là Mẹ vậy các con của Bà thì có phải là con một nhà hay không? Mình nhớ về tín ngưỡng tứ phủ có câu nói:

“ Mỗi người mỗi nước mỗi non

Đã về cửa Mẫu như con một nhà.”

Vậy mà chúng ta sao không nghe lời dạy của các Thánh nhân ” người đi trước dẫn bước người theo sau; đừng nên chia rẽ mà đau đớn lòng” các bạn có biết họ thấy các bạn đấu đá moi móc nhau họ vui lắm sao? Trong chúng ta sẽ có lúc làm cha làm mẹ nếu chúng ta thấy các con cái chúng ta cãi vã chia rẽ lẫn nhau ghanh ghét đố kỵ nhau thì các bạn có thấy vui không? Tôi nghĩ sẽ chẳng bậc cha mẹ nàomuốn như vậy đúng không?  Chính Vì vậy, tôimong tất cả các người con của Đạo Nhà hãy cùng học hỏi bảo ban lẫn nhau như những gì các bậc Thánh nhân đã dạy, người biết ít bảo người chưa biết, người biết nhiều bảo người biết ít cùng bảo ban học hỏi lẫn nhau cho cái đạo càng ngày càng phát triển và đẹp như hình tượng vốn có của nó.

Tất cả các tín ngưỡng dân gian nói chung vàViệt Nam Nội Đạo nói chung nó là một nét văn hoá sống của dân tộc cần được duy trì và phát triển theo hướng tích cực, chứ không phải tiêu cực. Thế hệ trẻ chúng ta là những người sẽ nối tiếp bảo vệ và truyền bá những cái đẹp của ông cha các chúng ta phải có con mắt nhìn nhận, khối óc để suy nghĩ thật xa, thật rộng đừng để phải nhầm đường như những con sâu bọ đục khoét nhờ vào tôn giáo, tín ngưỡng mà làm lợi bất chính, những kẻ bán nước cầu vinh dựa nó để truyền bá hại đạo nhằm chia rẽ tôn giáo của chúng ta khiến chúng ta hiểu sai về nó.

Các Thanh đồng đạo quan, các tín đồ của đạo hãy mở lòng chỉ bảo các bạn, và chính các bạn hãy học hỏi và loại trừ những gì tiêu cực và bóc tách phân tích để đưa ra những gì là đúng đắn nhất. Chúng ta không nên ích kỷ chỉ giữ cho riêng mình, để rồi khi xuôi tay đem nó theo xuống ba tấc đất mà làm mai một đi cả một tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống của cả một dân tộc nó là những gì ông, cha, mẹ chúng ta để lại và nó là nét văn hoá sống của toàn dân tộc.

Trắc hẳn ai biết một chút về tín ngưỡng thờMẫu cũng ghe câu ” trời đánh không bằng thánh phạt” cuộc đời gieo nhân nào thì gặp quả ấy. Thánh giáng những người có tâm có Đức chứ ko phải ai thánh cũng có thể giáng. Thờ được thánh thì rất rễ giữ được lễ mới là cái khó. Tôi mong các thanh đồng trẻ hãy tiếp bước ông cha bảo tồn truyền bá cho thế hệ sau hiểu được về Đạo theo đúng nghĩa . Còn thánh sẽ có nhiều người bảo chỉ là hư cấu thì họ chẳng biết gì về đạo hạnh. Họ là những anh hùng của dân tộc cứu nước giúp dân công lao to lớn mà khi thác đuợc nhân dân tưởng nhớ công ơn lập lên đền thờ , như chúa Liễu, chầu bát, chầu lục, ông 7 ông 10 đặc biệt là Trần triều Nhân vũ Hưng Đạo đại vương, một nhà quân sự tài ba một anh hùng dân tộc và là một trong mười vị tướng tài của nhân loại…

Tôi tin có Thánh , vì các vị Thánh đa số là người thật sống ở các triều đại của Việt Nam, được nhân dân tưởng nhớ công ơn lập lên đền thờ. Vốn dĩ tổ tiên của chúng ta từ xưa đã có những phong tục tập quán riêng từng vùng, miền.  “Phong tục mỗi nơi mỗi khác”.

Từ thời thượng cổ việc thờ cúng tổ tiên đã có, từ thời nguyên thủy thì đã hình thành lên phong tục thờ cúng Mẫu Hệ, ( từ dời này qua đời khác ). Cho đến tận bây giờ vẫn còn mà chỉ được truyền miệng qua các thời kỳ, nhưng chúng ta vẫn giữ gìn được truyền thống củacha ông. Là người Việt Nam chúng ta nên tự hào vì điều đó, cụ Nguyễn Du nói trong ” Độc Tiểu Thanh Ký” rằng:

” Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa

Người đời ai khóc Tố Như chăng”

Vậy đến bây giờ và còn mãi mãi về sau, nếu còn Truyện Kiều thì còn cụ và trong ba trăm năm lẻ tính từ lúc cụ Sinh ra đến giờ đã là 250 năm rồi. Trong khi đó Nội Đạo đã có từ trước đó rất nâu, mà sao chúng ta làm nó xấu đi , phải trăng chúng ta không thể gìn giữ được, hay vì miếng cơm manh áo mà có người sẵn sàng bán đi cái cội rễ của mình. Như vậy có đáng không, có xứng không. Mỗi chúng ta, ai sinh ra đều rất lương thiện, xã hội chi phối miếng cơm manh áo, chi phối cái thiện mất dần vì hoàn cảnh, gia đình, xã hội: “Nhưng trên đời này không có bước đường cùng, đó chỉ là những danh giới. Điều tất yếu ta phải có sức mạnh để vượt qua danh giới ấy” (Nguyễn Khải).

Những người làm được như vậy rất nhiều,chỉ vì không có tổ chức, không có ai bảo trợ và không ai đi vác tù và hàng tổng nên ngày ngày mình phải nhìn gốc rễ của mình tha hoá , để đến khi chính người trong đạo họ còn ghê tởm, để phong tục tập quán bị coi là mê tín dị đoan, là làm lợi bất chính là hại dân, hại nước.Để phải nhìn thấy một tôn giáo du nhập vào nước ta được gọi là Quốc Giáo. Như vậy phải chăng chúng ta chưa thể bảo tồn và phát huy cái gốc rễ của nước nhà, cho nên mỗi con dân nước Việt hãy cùng nhau truyền bá và bảo tồn để hiểu theo đúng về Việt Nam Nội Đạo, một tôn giáo Thuần Việt và Gốc Việt.

Đặc biệt Mẫu Liễu Hạnh là điển hình của dòng tín ngưỡng với ba lần tam sinh tam hóa và hiển thánh phù đời cứu dân giúp nước. Một nhân thần có thính chất Thiên thần đã đi vào tiềm thức dân gian của Việt Nam. Mẫu với ba lần tam sinh tam hóa đã làm cho từ một tín ngưỡng được hình thành từ các mối quan hệ trở thành một tôn giáo bản địa Tức Đạo Mẫu Việt Nam.

Tg:  Nguyễn Sỹ Đông ( Đông Lim ) tổng hợp từ nhiều tài liệu của nhiều tác giả

Tài liệu tham khảo

1 Quảng Cung Lainh từ Bi, Ký

2 Cát tiên Tam thế Thực Lục

3 Truyền Kỳ Tân Phả

4 Mùa Lạc

5 Truyện Kiều

6 Vikipmedia Mẫu Liễu Hạnh

Các tin mới hơn

Các tin cũ hơn