Gia đình với tâm tình tôn giáo khi tết đến, xuân về

Thế là những chiếc áo len được tìm lại để khoác lên người khi thời tiết trở lạnh. Nhiều người Công Giáo Việt Nam, vẫn có thói quen liên tưởng khi nói tới cái lạnh của mùa đông thì họ liền nghĩ ngay tới đại lễ Giáng Sinh, vì: “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, còn với bọn trẻ chúng tôi, đã từ lâu, nói tới cái lạnh lẽo là liền nghĩ ngay tới “đã sắp tới tết rồi”. Vì lẽ “tết” là thời gian có quá nhiều công việc và tâm tình gây ấn tượng sâu sắc. Một trong những tâm tình còn đọng lại và theo tôi suốt cuộc đời là tâm tình linh thiêng của ngày tết, một trong những lễ hội lớn nhất của truyền thống Việt Nam.

1.  Đạo Việt, Đạo Trời: tâm linh người Việt.

Nghe ông bà tôi kể lại rằng không biết các cụ tổ của dòng họ tôi đã vinh dự nhận Bí tích Rửa tội từ thời nào, nhưng theo các cụ thì niềm tin bình dân vào ông Trời của các cụ gặp được sự khai sáng của đức tin Kitô giáo giống như nấm gặp mưa rào nở rộ.
Qủa vậy, nếu nói tôn giáo là tin tưởng siêu hình với một hệ thống giáo thuyết và lễ nghi, với cơ cấu tổ chức hữu hình chặt chẽ, thì ngay từ đầu người Việt không có tôn giáo như thế. Nhưng chỉ căn cứ vào tín ngưỡng và lễ nghi thờ kính, thì người Việt ta có đạo, đạo Tổ Tiên, đạo Trời. Đạo Tổ Tiên đã trở thành đạo sống của người Việt, thể hiện nơi đạo Hiếu, đạo Từ (đạo làm con cái, đạo làm cha mẹ), đạo này chi phối mọi sinh hoạt của gia đình và xã tắc: khôn ngoan nhờ ấm cha ông – làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ. Nhưng đạo Trời mới thực sự là tâm linh của người Việt. Bài đồng dao lúc thiếu thời mà nhiều người Việt vẫn còn nhớ rõ: Nhất, Ông đếm cát; Nhì, Ông tát bể; Ba, Ông kể sao; Bốn, Ông đào sông; Năm, Ông trồng cây; Sáu, Ông xây rú; Bảy, Ông trụ trời, phản ánh rõ niềm tin đơn sơ, chân chất vào Ông Trời, Đấng quyền năng và sáng tạo.
Niềm tin đơn sơ này tin rằng Ông Trời, đấng sáng tạo trời đất trong thời gian bảy ngày, là thời gian cần thiết để xây dựng nên càn khôn thiên địa. Bảy ngày tạo dựng vũ trụ của ông Trời trong bài đồng dao làm ta liên tưởng tới quan điểm của người Do Thái về Giavê Thiên Chúa, Đấng tạo dựng trời đất được kể lại trong những chương đầu của sách Sáng Thế Ký.
Niềm tin đơn giản của người Việt về Trời còn quan niệm rằng Đấng tòan năng ấy là Đấng hay thương ban mọi thứ cho con người. Vì Việt Nam là xứ nông nghiệp, nên lời khẩn cầu với ông Trời cũng rất là cụ thể: Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp. Ngay cả trong đời sống hôn nhân gia đình, người Việt vẫn tin có sự can dự của ông Trời: duyên Trời định… Ông Trời ngoảnh mặt lại trông – mày hay kén chọn ông không cho mày.
Giáo lý Công Giáo truyền dạy tin một Thiên Chúa, Đấng quyền năng và đầy yêu thương đã rất phù hợp với niềm tin tưởng đơn sơ của người Việt. Niềm tin này được phô diễn bằng nhiều cách trong đời sống hằng ngày. Các cụ tôi lại chứng thực cho chúng tôi biết rằng từ nhà bình dân tới quan quyền, từ nhà tư tới đình làng… đều có bàn thờ trong nhà ngoài ngõ, để thờ Trời. Sáng sớm mở cửa, khởi đầu một ngày mới, người cha hoặc mẹ ra sân thắp nén hương khấn vái tứ phương trời đất rồi sau đó mới bắt đầu công việc cho một ngày mới; Ngày cuối năm và đầu năm là ngày quan trọng, giao điểm của năm cũ và khởi đầu của năm mới; lễ Trừ Tịch nói lên ước vọng muốn bỏ đi những gì xấu sa để đón nhận những gì tốt lành của năm mới. Tôi không nhớ rõ thi sĩ nào đã viết các câu thơ sau đây phản ánh trung thực ước vọng này:
Tối ba mươi tết co chân đạp thằng bần ra ngõ.

Sáng mồng một, mở cửa đón ông phúc vào nhà.

Khi đã đón nhận đức tin Công giáo, các cụ sống niềm tin này cùng với những tâm tình đạo hạnh ăn sâu từ bao đời, chỉ có khác cách thức thôi. Tối ba mươi tết, sau khi đã chùi rửa nhà cửa, giường chiếu, và hoàn tất một số việc còn lại trong năm cũ, và dặn dò con cháu những ai phải thăm viếng vào năm mới, mang gì… cũng như bọn trẻ chúng tôi chỉ được chơi đùa trong nhà, quanh sân, cho tới khi chuông nhà thờ đổ 12 giờ đêm, và những tràng pháo giao thừa phá tan sự yên tĩnh… Chúng tôi bắt đầu giờ kinh giao thừa dưới ánh sáng heo hắt của mấy ngọn bạch lạp; giọng của mẹ cất cao lời kinh quen thuộc và giọng của cha đáp lại. Các cụ nói giây phút quan trọng linh thiêng nhất phải lần cho đủ ba mùa Vui, Thương, Mừng, vị chi là một chuỗi dài 150; phải khác ngày thường chứ!
Sáng mồng một cả nhà dậy thật sớm để đi lễ đầu năm. Mừng tuổi mới của Chúa và cầu xin ơn bình an. Bao giờ cũng thế ba tôi dặn: đầu xuôi đuôi lọt con ạ. Đối với bọn trẻ chúng tôi mặc dầu thức đêm đọc kinh, nhưng không đứa nào dậy trễ cả vì biết chắc những bộ quần áo mới đẹp tươi đang chờ. Trước khi ra khỏi nhà, với vẻ mặt nghiêm nghị, chị tôi dặn từng đứa em, lễ xong phải về thẳng nhà ngay không được ghé vào nhà ai, và nhớ cư xử tốt với mọi người từ lời ăn tiếng nói đến cử chỉ đi đứng. Đầu năm không để tai tiếng, mang tiếng cho gia đình cả đời.
Sau này lớn lên nghe bạn bè theo các tôn giáo khác nói họ cũng có thói quen tốt đó. Người theo đạo Phật cũng đến chùa vào lúc giao thừa hoặc sáng mồng một tết. Dịp này người Phật giáo cũng mừng lễ Phật Di Lặc, vị Phật của vui tươi, hoan lạc, vị Phật tương lai sẽ cứu nhân loại cuối thời mạt pháp. Người ta đi lễ cầu xin Trời Phật độ trì cho mình làm ăn phát đạt, cho người thân được may mắn, cho quốc thái dân an. Dịp này người ta cũng thường mua nhang và đốt tại chùa một phần, phần còn lại đem về nhà gọi là hương lộc, đốt trước bàn thờ, lửa đỏ của hương tượng trưng cho phần đỏ của Phật ban. Trời còn ban phước lộc qua việc hái lộc đầu năm đem về để dưới mái nhà trước bàn thờ tổ.
Nhà văn hóa Duyên Hạc Lê Thái Ất đã tóm tắt niềm tin đơn giản của ông bà ta theo truyền thống đạo Trời, đạo Việt như sau: “Người tin theo đạo Trời tin ở ông Trời là Đấng thiêng liêng tuyệt đối, có quyền năng vô hạn, sáng suốt vô cùng và có lòng hiếu sinh vô tận bao trùm cả vạn vật. Ông Trời vô hình tướng, nhưng ở đâu cũng có, từ ngọai cảnh tới nội tâm con người. Sống thuận theo đạo Trời là vâng theo thiên lý… Phần trời linh thiêng bẩm sinh này chính là thiên tính, thiện tính, thiện tâm, thiện căn”.
Với cách hiểu và sống niềm tin chân thành và truyền thống này, nhiều đứa chúng tôi, lớn lên, lập gia đình, mặc cho biển dâu thay đổi cũng cố gắng cử hành lại một phần nào trong các gia đình của mình tâm tình tôn giáo linh thiêng này.
2.  Chiều kích tâm linh của lễ tết đầu năm.
Trong truyền thống văn hóa Việt, tâm tình và các việc cử hành lễ tết đầu năm thường mang đậm hai chiều kích: chiều dọc, với tâm linh tôn giáo, thể hiện qua việc đi lễ chùa (người Công giáo đi lễ nhà thờ), cầu khấn, xin ơn lành với Đấng linh thiêng. Và chiều ngang: hướng tới xã hội, gia tộc, gia đình, bằng hữu, thông qua việc cầu chúc, thăm viếng và quà tặng.
Nhân dịp Xuân mới, tôi xin kể ra đây một số tâm tình của ngày tết theo truyền thống văn hóa Việt Nam.:
a.  Nói đến tết là nói tới Niềm Vui.
Vui như tết… Trước hết niềm vui đến từ thiên nhiên và môi trường chung quanh, một cành mai, một đóa hoa đào, một tràng pháo, việc trang hoàng và quét dọn nhà cửa, nét mặt vui tươi và cách cư xử hòa nhã, kiềm chế mọi tức giận, buồn phiền… Cái vui của ngày tết chuyển đổi từ ngoại cảnh vào tâm hồn, niềm vui đã trở thành: hòa khí, đoàn tụ, thân ái. Tất cả nói lên sự thuận hòa, yêu thương. Có thuận hòa thì mọi cuộc hội tụ trong gia đình mới đầy thân ái. Nếu không có thuận hòa tất cả chỉ là nghi lễ bên ngoài, cung cách xã giao mà thôi. Lời cầu xin hiệp nhất của Đức Giêsu Kitô trước ngày thụ nạn: “Để hết thảy chúng nên một, cũng như, lạy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” (Ga 17,21), phải khởi đi từ trong gia đình trước hết.
Hòa khí, đoàn tụ và thân ái là hoa quả của lòng trân trọng, của sự hiệp thông giữa những nhân vị, những thành viên trong cùng một gia đình, gia tộc… Sự hiệp thông giữa những nhân vị phải biểu hiện một chiều sâu và một sức mạnh trong các mối liên hệ. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II dạy: “Trong gia đình, mọi người đều quan trọng do bởi bản thân người ấy, bởi vì người ấy hiện hữu. Việc mỗi người thông ban nhân tính cho kẻ khác có thể nói được đó là tình trạng nguyên thủy của gia đình, và đây cũng là bổn phận cốt yếu của gia đình nữa… cũng là điều cơ bản của sự hiệp thông trong gia đình” (Đối thoại với Đức Gioan Phaolô II, Andrew Frossard, 163).
b.  Nói đến tết là nói đến sự Đổi Mới.
Sự chuyển động trong thiên nhiên từ đông sang tây, từ lạnh sang ấm, từ tối sang sáng, từ cằn cỗi tới xanh tốt là sự chuyển động đổi mới. Những nỗ lực bên ngoài của những ngày chuẩn bị lễ tết là ước vọng của sự muốn đổi mới bên trong. Quét dọn nhà cửa, lau chùi đồ đạc, trang hoàng và sửa sang trong nhà ngoài ngõ, y phục mới mẻ, nụ cười rạng rỡ, cư xử hòa nhã… phản ánh một ước vọng sâu xa: mong ước năm mới mọi sự được đổi mới, từ xấu sang tốt, từ tốt sang tốt hơn. Mọi nỗ lực đổi mới, kể cả sự mong ước đổi mới luôn gọi mời một quá trình lên đường bền bỉ và can đảm, một ý chí quyết tâm.
c.  Nói đến tết là nói đến tâm linh Tôn Giáo.
Biểu hiện rõ nét của tâm tình này qua việc tế tự, cúng lễ, đêm giao thừa và sáng mồng một đầu năm. Theo tục lệ Việt Nam, đêm trừ tịch, cúng thổ công, thần hoàng, làng xã. Sáng mồng một đi lễ chùa cầu ơn, bình an. Các tục lệ này dựa trên những truyền tụng lâu đời và truyền từ đời này sang đời khác, gia đình này tới gia đình khác, thế hệ này tới thế hệ khác…
Với người Công giáo, đức tin cũng được nuôi dưỡng, vun trồng và lớn lên trong môi trường gia đình, và điều này là cần thiết không thể có nơi nào và không ai có thể thay thế được chức năng giáo dục niềm tin tôn giáo của gia đình nơi con cái. “Một cách hay nhất để các gia đình và con cái thắng vượt được chủ nghĩa khoái lạc đang bành trướng và biến các mối quan hệ gia đình thành tầm thường và trống rỗng, là việc loan truyền chân lý Phúc Âm trong gia đình, làm cho cảm tính và bản chất hôn nhân gia đình được củng cố vững mạnh, cũng như giúp con cái phát triển về các mặt tinh thần cũng như thể xác, thiêng liêng cũng như nhân bản” (Huấn thị ĐGH Benêdictô XVI tại đại hội thế giới gia đình, Tây Ban Nha, 8/7/06).
d.  Nói đến tết là nói đến tâm tình Hiếu Thảo, Biết Ơn.
Tối 30, gia đình Việt Nam có thói lệ đón rước ông bà về ăn tết với con cháu. Sáng mồng một, dọn lễ cúng gia tiên, con cháu chúc tuổi và dâng quà cho cha mẹ. Sự tích bánh chưng vuông, bánh dầy tròn cho thấy cái nguyên thủy vạn vật đất trời, nhưng cũng còn nhắc nhở cho con cháu cội nguồn của mình nơi cha mẹ và ông bà. Người Việt Nam đã thể hiện tâm tình này một cách chân tình và đáng ca ngợi.
 
Nhật Anh tổng hợp

Các tin mới hơn

Các tin cũ hơn