Đền Công Đồng Bắc Lệ

Đền Bắc Lệ – Xã Tân Thành – Huyện Hữu Lũng – Tỉnh Lạng Sơn
48676567
Voi Xô, Phú Vị, Đồi Nghè*
Trong ba nơi đó chớ thường vãng lai

Câu ca dao địa phương trên là câu truyền miệng được tôi ghi lại trong một chuyến thăm đền Bắc Lệ cùng quần thể các đền phủ tại Lạng Sơn cách nay đã lâu. Đọc qua cũng có thể thấy sự kinh sợ của nhân dân địa phương nói riêng và nhân dân thập phương nói chung khi nhắc đến ba địa danh này. Sở dĩ vậy, bởi khi xưa vùng xứ Bắc Lệ là vùng ma thiêng nước độc, lắm hổ beo thú dữ, lại lắm sự linh thiêng ứng nghiệm của thiên nhiên. Nhân dân trong vùng vì đó mà truyền tai nhắc nhở nhau không nên xâm phạm những địa danh này nhằm bảo tồn sự an toàn cho bản thân và gia đình quyến thuộc. Tất nhiên, nếu xét về mặt tâm linh, đây có lẽ là một niềm tin thái quá ( ở thời điểm hiện nay ). Nhưng đó cũng là một lý do để từ đó địa danh Bắc Lệ không những đi vào lịch sử của Lạng Sơn như một vùng đất kháng chiến chống giặc xâm lược phương Bắc, chống giặc Pháp xâm lược những năm đầu thế kỷ XX mà còn là một địa danh in đậm dấu ấn tâm linh của dân tộc, nơi gắn liền với tín ngưỡng Mẹ, tín ngưỡng Tứ Phủ đặc sắc để từ đó là cơ sở cho cả một hệ thống tín ngưỡng được hình thành và phát triển rực rỡ đến tận ngày nay. Ngôi đền Bắc Lệ cổ kính – linh thiêng gắn liền với những truyền thuyết, những niềm tin và cả với những ước vọng của cả một dân tộc mà tư duy của dân tộc đó gắn liền với những hệ tư tưởng vô cùng phong phú và đậm tính nhân văn. Trong một chuyến đi chiêm bái tại đền, tôi đã thực hiện bài viết này, cũng là một phương pháp để có thể tìm hiểu một cách rõ ràng hơn về truyền thuyết, niềm tin, về lịch sử hình thành và phát triển của một trong những ngôi đền nổi tiếng nhất của quần thể đền phủ trong hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Phủ Việt Nam. Bài viết chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đánh giá chân thành cùng sự bổ sung quý báu của anh chị em, ngõ hầu để tăng thêm sự hiểu biết của tất cả chúng ta về ngôi đền này.

(*: Đồi Nghè là tên địa phương của địa danh Bắc Lệ)

I.Truyền thuyết đền Bắc Lệ:

Truyền thuyết 1:

Truyền thuyết kể rằng, sau khi được Vua Hùng gả con gái cho, Tản Viên Sơn Thánh và Mỵ Nương công chúa ( con gái vua Hùng thứ 18 ) sống rất hạnh phúc với nhau. Họ sinh được hai người con, một trai một gái. Con trai đặt tên là Hai, con gái đặt tên là La Bình.
La Bình là người con gái đẹp người đẹp nết nên được Tản Viên Sơn Thánh rất yêu quý, thường cho đi theo bên mình mỗi khi đi tuần du hay đi săn bắn. Đi đến đâu nàng cũng quyến luyến với cảnh rừng núi, suối ngàn. La Bình làm bạn với muông thú và vô vàn cỏ cây. Thấy vậy Trời đã ban cho nàng là Nữ Chúa rừng xanh còn gọi là Thượng Ngàn Công Chúa. Được gia phong, La Bình rất phấn khởi, lại càng thêm phần yêu mến muông thú, cỏ cây, rừng núi. Nàng dậy muông thú phải biết làm điều thiện. giúp ích cho con người, chính vì vậy các loài muông thú càng thêm quyến luyến, tin yêu nàng. Thấy Chúa có công, Thượng Đế lại tiếp tục gia ban cho nàng cai quản 81 cửa rừng trong cõi Nam Giao. Ngoài việc dạy dỗ muông thú, cai quản chốn rừng xanh, Chúa còn hiển linh phù giúp cho các triều Vua sau này đánh giặc ngoại xâm. Các triều cảm ân, đều có sắc phong tặng cho Chúa.

Truyền thuyết còn kể rằng sau này, trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Do lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch lại thêm nghĩa quân Lam Sơn lại đóng quân ở nơi bất lợi nên việc dành phần thắng trong cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn. Chúa La Bình đã hiển linh báo mộng cho Bình Định Vương Lê Lợi là phải rút quân ngay để bảo toàn lực lượng. Chúa đã biến mình thành bó đuốc dẫn đường cho nghĩa quân Lam Sơn di chuyển trong đêm đến vùng rừng núi Yên Thế và chỉ rõ đây là nơi đóng quân thuận lợi nhất. Từ địa điểm này, cuộc khởi nghĩa đã dần dành lại được thế tiến công, được mở rộng và dành thắng lợi hoàn toàn. Sau này, Vua Lê Lợi đã ban tặng sắc phong cho chúa là bậc Mẫu Nghi Thiên Hạ. Nhân dân cả nước cũng tôn sùng, lập đền thờ Mẫu ở khắp nơi. Đền Bắc Lệ cũng được gây dựng trên cơ sở sự tích đó.

 

Truyền thuyết 2:


Bên cạnh huyền tích về Mẫu La Bình, nhân dân vùng Bắc Lệ và một số vùng lân cận còn cho rằng: đền Bắc Lệ thờ Chúa Liễu Hạnh. Và nhân dân trong khu vực cũng tôn xưng Chúa Liễu là Mẫu.
Huyền tích được phổ biến rộng rãi nhất hiện nay về Chúa Liễu cho rằng: Ngài là con gái thứ của Vua Cha Ngọc Hoàng tên gọi Quỳnh Hoa, là Đệ Nhị Cung Chủ trên Tiên Giới. Vì phạm lỗi với Vua Cha nên Chúa bị giáng xuống trần gian. Chúa giáng sinh vào nhà họ Lê ở Vụ Bản – Nam Định ( Hà – Nam – Ninh ) tên là Giáng Tiên. Lớn lên, Chúa tài sắc vẹn toàn, thông minh tuyệt xuất. Năm 18 tuổi được gả cho Đào Lang, là con nhà họ Trần ( cũng ở Vụ Bản ). Sống với chồng 3 năm. Chúa sinh được 2 con, cuộc sống gia đình vô cùng đầm ấm, hạnh phúc. Bỗng vào ngày 3/3/1578, Chúa hóa về trời:

Thiên đình định nhật chí kỳ
Đôi mươi mốt tuổi kíp về thiên thai
 

Khi về trời, nàng ủ dột vì nợ trần chưa dứt. Nhớ chồng, nhớ con, lại thương cha mẹ già nơi trần thế, Vua Cha thương con, y chuẩn cho Chúa giáng trần lần thứ 2 để thăm cha mẹ, chồng con trong ít ngày rồi phải về Trời. Về đến Trời, tâm trạng nàng vẫn khôn nguôi thương nhớ duyên trần, thương con, Ngọc Hoàng chuẩn tấu cho nàng giáng trần cai quản đất bằng và rừng núi ban tên khác cho nàng là Liễu Hạnh. Sau này, nhân dân cũng tôn thờ Ngài là Thánh Mẫu.

Di tích đền Bắc Lệ được công nhận là di tích lịch sử văn hóa vì những lý do sau:

– Có vị trí, địa điểm thuận tiện với phong cảnh hữu tình
– Là trung tâm sinh hoạt văn hóa dân gian từ bao đời nay
– Là trung tâm lịch sử hiện đại của xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng nói riêng và tỉnh Lạng Sơn nói chung
– Là trung tâm lễ hội của nhân dân trong vùng, khách thập phương và nhân dân trong cả nước.

Đền Bắc Lệ chính là đền thờ Mẫu Thượng Ngàn

Đền Bắc Lệ ở xã Tân Thành – Hữu Lũng – Lạng Sơn, ở gần ga Bắc Lệ. Từ Hà Nội đi chuyến tàu Hà Nội – Lạng Sơn thì chưa đầy 3 tiếng đã đến ga Bắc Lệ. Nếu theo đường bộ, từ thị trấn Hữu Lũng về đền Bắc Lệ mất chưa đầy nửa tiếng. Khi xuống ga Bắc Lệ ta có thể nhàn tản ngắm phố chợ Bắc Lệ, một phố chợ miền núi thực thụ, có đầy đủ sản vật của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh……Vào mùa lễ hội ( tháng Giêng và tháng 9 âm lịch ) chắc chắn ai cũng phải đắm say trước trang phục rực rỡ của cư dân bản địa. Trang phục, cùng phong tục thuần hậu của vùng sơn lâm càng làm ta thêm tin yêu, quý trọng.

Đền Bắc Lệ tráng lệ mà khiêm tốn, thấp thoáng trong tán các cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi trên đồi cao càng tôn thêm dáng vẻ uy nghi, thâm nghiêm của đền. Từ trên cao nhìn xuống con suối Bắc Lệ có thể bao quát cả vùng rừng núi rộng lớn, khống chế, che chở cho tuyến đường sắt huyết mạch Lạng Sơn – Hà Nội.

Từ dưới chân đồi đi lên bên mé trái là miếu thờ Chầu Bé Bắc Lệ, trước kia miếu thờ Chầu Bắc Lệ ở một khoảnh đất bằng phẳng sát bờ suối Bắc Lệ. Trong am có tượng Chầu Bé, tượng cô bé, cậu bé Bắc Lệ theo hầu. Chầu Bé Bắc Lệ là vị thần cai quản vùng sơn lâm Bắc Lệ, nơi có đền thờ Mẫu Thượng Ngàn. Bất kỳ ai muốn lên chiêm bái, cầu đảo ở đền đều phải thắp hương ở miếu Chầu Bé, xin Chầu có lời tâu đối lên Cửa Mẫu cùng chư thánh tại đền. Đây là quan niệm “do ti đạt tôn” ( từ cấp thấp lên cấp cao ) trong xã hội cũng như trong tôn giáo.

Sau khi thắp hương ở miếu Chầu Bé, ta đi thêm khoảng chục bậc thang nữa là lên đến đền chính. Đền chính được xây theo kiểu chữ Đinh gồm tiền tế và hậu cung, đền mới được xây mới lại nhưng vẫn giữ được nét uy nghi và phong cách kiến trúc cũ. Trên mái đền có đắp “Long triều lưỡng nghi”. Lưỡng nghi tượng trưng cho trời và đất, âm và dương, âm dương hài hòa sẽ sinh vạn vật. Nhà bái đường gồm 5 gian. 3 gian ngoài thờ Ngũ Vị Tôn Quan là: Quan Lớn Thủy Phủ hay còn gọi là Long Vương thái tử khoác bào màu trắng – Thần cai quản sông, biển, suối ke, mạch đất. Vị thứ 2 là Quan Lớn Thượng Ngàn khoác bào màu xanh – Thần cai quản rừng núi, cỏ cây, muôn thú. Vị thứ 3 là Quan Lớn Đệ Nhất khoác bào đỏ – Thần cai quản vùng trời. Vị thứ 4 là Quan Lớn Đệ Tứ khoác bào vàng – Thần cai quản đất bằng. Vị thứ 5 là Quan Lớn Tuần Tranh khoác bào lam – Thần cai quản binh tướng và các cửa ải. Phía trên cung thờ Ngũ Vị là bức hoành phi đề: “Hưng Tiên Hiền Từ”. Hai bên thờ đôi câu đối:

Quốc sắc thiên hương nhân gian thánh nữ
Băng cơ ngọc cốt thế thượng thần tiên
Dịch:
Sắc nước hương trời nhân gian thánh nữ
Mặt hoa da phấn thượng giới thần tiên

Dưới ban thờ Ngũ Vị là tượng Hắc Hổ đắp nổi. Hổ cũng là thần hộ pháp cho đền. Đền thờ thánh Việt Nam thường thấy thờ thần rắn, thần hổ, voi chín ngà, bạch tượng….Đây là các thần thú thường theo hầu các vị Thánh để trừ ma quỷ hay âm phù các vua, các tướng đánh giặc ngoại xâm.
Cung đệ nhị thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế. Tượng Ngọc Hoàng đặt trang trọng ở chính giữa, hai bên có tượng quan Nam Tào – Bắc Đầu hầu. Phía dưới có tượng Thánh Hoàng Bảy, Thánh Hoàng Mười.

VĂN CHẦU BÉ BẮC LỆ

Trên sơn lâm ngôi cao mát mẻ (1)
Con thỉnh mời chầu bé ngự chơi

Ai lên tới Cao Sơn xứ Lạng
Hỏi thăm đền chầu bé nơi nao
Hỏi ra Bắc Lệ đi vào
Ngôi đền chầu ngự thấp cao mấy tầng

Ngàn cỏ hoa nghiêng mình rủ lá
Bầy chim muông bách thú quỳ tâu
Chim oanh ríu rít bên lầu
Phượng Hoàng tung cánh về chầu Động Tiên

Vượn trên non ru con rầu rĩ
Thú lâm sơn cảnh đẹp tự nhiên
Một bầu gió mát trăng thâu
Đàn thông réo rắt bên mình suối reo

Đường uốn khúc quanh đèo dốc núi
Núi hiểm nghèo cát sỏi đá ong
Một bầu sơn thuỷ thong dong
Công Đồng Bắc Lệ , Kì Cùng Lạng Sơn

Trăm thứ quả mang về tiến Mẫu
Hái rau bi, củ đậu măng tươi
Cơm lam , rau sắng củ mài
Ngô khoai đõ lạc sắn đồi rượu tăm

Bạn tri âm động đào tả hữu
Áo xanh chàm yểu điệu vào ra
Gót tiên quảy lẵng hái trà
Chân quấn xà cạp nón tu lờ,dao quai (2)

Miệng chầu cười trăm hoa đua nở
Chầu phán tiếng Nùng , tiếng Thổ tiếng Kinh
Đàn thông dạo khúc thanh bình
Xênh ngô sáo trúc tính tình hoà ca

Thường dạo cảnh Bảo Hà Trái Hút
Đền Đông Cuông Đức Đại tối linh
Tuyên Quang cảnh trí hữu tình
Núi rừng Mẫu ngự ,thác ghềnh cỏ hoa

Ngự cung cấm một toà thạch động
Đền Ỷ La lồng lộng ngôi cao
Cây Xanh chầu mắc võng đào (3)
Mỏ Than chầu ngự thấp cao mấy tầng

Cảnh núi rừng đèo heo hút gió
Thú sơn lâm hoa cỏ tốt tươi
Minh Lương suối lượn quanh đồi
Chầu thường dạo cảnh khắp nơi hữu tình

Lai Châu, Suối Rút Hoà Bình
Đỉnh non Bắc Kạn một mình cheo leo
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,

Núi xếp núi mấy tầng cao thấp
Cây chen cây tràn ngập màu lam
Đền thờ chầu bé trên ngàn
Có con suối nhỏ bắc ngang chân đồi

Đàn cá lội đua bơi rẽ sóng
Nước long lanh in bóng trăng thu
ngàn thông cất tiếng hát ru
Hoa thơm quả ngọt bốn mùa ngát hương

Chầu bé thượng Thổ Mường là gốc (4)
Áo tứ thân khăn lục đội đầu
Đai xanh kiềng bạc túi trầu
Tay cầm dao quắm,vác bầu nước khe

Dận hải sảo , đầu cài trâm trí
Vòng kim cương tam khí lồng tay
Hây hây mặt nước vơi đầy
Đẹp như hoa nở trước ngày đấu xuân

Tuổi Chầu bé đang tuần trăng độ
Phép sơn trang đức tổ ban truyền
Phép tiên biến lá làm thuyền
Bẻ ba tàu cọ giả hàng bán chơi

Bạn Thổ Mán nơi nơi tìm đến
Vượt cửa ngàn cung tiến quả hoa
Tử Long Bảo Lạc Tam Cờ
Sông Thao sông Cả sông Bờ sông Dâu

Khắp đâu đâu nức danh Chầu Bé
Tự cổ triều quốc sử còn ghi
Danh thơm Nam Bắc trung Kỳ
Giúp dân hộ quốc độ trì bốn phương

Sắc phong tặng đại vương trường trị
Trên Bắc Lệ ngàn tú khí là nơi
rừng già chầu đã dạo chơi
Lập ngôi đền thờ tả phượng hữu lân

Dòng sông Thương nước trong leo lẻo
Dải sông Tô uốn éo xinh ghê
Thông reo trúc mọc tứ bề
Đền thờ cao ngất trông về Bắc Ninh

Vẻ tinh tú bên ghềnh vị thuỷ
Chầu giáng đền trấn trị yêu ma

Chú Thích:
(1): các câu kiều thỉnh Chầu bé ngự về có thể là
“Kim chi ngọc diệp rành rành
Chầu bé Bắc lệ hách danh hạ trần”
hay
Kim chi ngọc diệp rành rành
Chầu bé Bắc Lệ giáng sinh hạ trần
( Còn nhiều dị bản của 2 câu này .Mỗi nơi hát có thể thay đổi 1 số từ)

“Ai lên Bắc Lệ bao xa
Ai lên chiêm bái phải qua đỉnh đèo”
hay là
“Ai lên Bắc Lệ bao xa
Ai lên chiêm Hoá phải qua đỉnh đèo”
hoặc
“Ai lên Bắc Lệ bao xa
Ai lên chiêm bái phải qua đền chầu
Trên Chim reo dưới thì vượn hót
Chầu dạy chim rừng ca hát líu lo”
…………………………………………………….

(2): nón tu lờ cho các nhà sư(nón rộng có 18 vành)
(3) Đền cô Minh Lương , đền Mẫu ỷ La , đền Mỏ than , đền Cây Xanh đều là những đền nổi tiếng ở Tuyên Quang
(4) : chầu bé Bắc lệ gốc là người Nùng( hay còn gọi là người Nồng có chung ngôn ngữ giống người tày)

Sưu tầm

Các tin mới hơn

Các tin cũ hơn