Đạo Mẫu Việt Nam:Thánh Mẫu Liễu Giáng Sinh Lần thứ hai

1557 – 1577

Tại thôn Vân Cát, xã An Thái, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định có một người tên là Lê Thái Ông hiệu là Đức Chính, vợ Trần Thị  Tự là Phúc Thuấn, ăn ở rất hiền lành phúc đức, ngày làm việc thiện gì thì đêm thắp hương cáo với Ngọc Hoàng, hậu thổ trăm lần như một, đến năm  bốn mươi tuổi  mới sinh được một người con trai đầu lòng tên là Lê Lục.

Đức Lê Thái Ông nguyên dòng dõi nhà Trần, nhưng sau gặp loạn Hồ Quý Ly và Trương Minh Phụ giết hại Trần Tôn thất nhiều qua, nên phải cải họ Trần ra họ Lê cho khỏi bị hoạ.

Đến năm Thiên Hựu nguyên niên triều vua Lê Anh Tôn ( 1557 ). Lê Thái Bà có thai lần thứ nhì, đã quá ngày sinh mà chưa sinh được, thường ngày các thức mặn không ưa, chỉ thích hoa quả mà thôi, trong nhà thấy thế ngỡ tưởng yêu quái quấy nhiễu, bèn thiết đàn mời thầy phù thuỷ đến có trừ tà trị bệnh nhưng không hiệu quả lại tăng thêm.

Một hôm về tuần tháng ba trời thanh trăng tỏ, có một ngưòi chít khăn nâu áo vải, ra dáng đạo nhơn, đứng ngoài cửa xin vào chữa bệnh, người nhà không cho vào, người đạo nhơn cười mà nói rằng:

“ Ta đây có phép phục long, hàng hổ, xuất u nhập minh, thấy nhà ngươi ăn ở hiền lành, mới vào cứu giải, sao nhà ngươi lại không cho vào ”.

Lê Thái Ông nghe nói liền mở cửa mời vào, người đạo nhơn vào nhà, thì xũ tóc lên đàn, miệng niệm thông thiên thần chú, tay rút cái búa ngọc trong tay áo ra, rồi ném xuống đất, tức thì Lê thái Ông mê thiếp đi, bằng theo tay ngã xuống, thấy hai viên lục sĩ đầu đội nón dấu, mình mặc áo giáp tay cầm hèo hoa, lại dẫn ông đi thì ông cứ theo đi, đường đi khúc khuất quanh co, càng lên càng cao, hết tầng này đến tầng khác, sắc trời mờ mờ, như sáng trăng, trông không được rõ, Đức Thái Ông đi mãi đã mệt, không muốn đi nữa, bèn nói vớí hai ông lực sĩ ngồi nghỉ nhưng hai ông không nhận lời, lại còn giục Đức Thái Ông đi gấp nữa và nói rằng: “ Kìa cửa Kim Khuyết đã gần đến nơi rồi, mời ông chịu khó đi gấp kẻo trễ, hai ông lực sĩ vừa nói vừa giục, tay chỉ cho Thái Ông xem, Thái Ông bất đắc dĩ cũng phải đi theo, được một chốc vừa đến, thấy một cái cửa làm toàn bằng vàng sáng chói cả mắt, phía ngoài cửa ở tầng trên có hai con rồng chầu mặt nguyệt, ở tầng dưới có hai con phụng ngậm quyển thư, ở tầng trong có hai con kỳ lân giỡn quả cầu, ở tầng dưới có hai con quy đội đồ bát quái, làm toàn bằng ngọc cả.

Đức Thái Ông ngẫm nghĩ một hồi thì hai ông lực sĩ đem áo lại cho ông thay, lại đưa ngài qua chín tầng cửa nữa, mới đến toà nhà làm bằng mã não, hai người lực sĩ bảo: “Ông đứng lại đó mà chờ ”. Mấy phút sau chợt trông thấy đám mây hồng dựng lên mùi thơm ngào ngạt, thấy ở trong đám mây bước ra một vị tóc bạc phau phau, khuôn mặt vuông chữ điền, màu da đỏ thắm, đội mũ bình thiên, tay cầm ngọc như ý, mình mặc long bào, ngồi trên một chiếc long ngai bằng vàng đế trên bệ ngọc, chung quanh mình có một đạo hào quang chiếu sáng rực rỡ khắp một vùng trời, bốn phía có che cái tàng tía hai bên có các quan đứng chầu áo mão xiêm đai, văn võ tướng kể biết bao nhiêu, rất là nghiêm chỉnh, ở dưới trần thế, Thái Ông chưa từng trông thấy.

Nhạc quân thiên bắt đầu tấu trước, khúc nghê thường chen gót múa sau, trên mâm lưu ly dâng quả bàn đào của Đức Vương Mẫu, trong bình đơn nhược của Đức Lão quân, hàng hà sa số châu bửu không kể xiết.

Một lát thấy một vị Tiên Nữ mặc áo hồng y vào làm lễ bưng chén ngọc rượu chúc thọ, sảy tay rơi xuống, lúc đó bên tả có một vị quan dở quyển sổ ngọc, biên vào ước chừng mười chữ, rồi thấy vị ngồi trên ngai rồng ở giữa thịnh nộ lôi đình liền của mắng: “ Sao ngươi không tròn phận sự giữa Đế Đình như thế ”.

Đoạn rồi có hai vị sứ giả, và mấy người thị nữ dắt người Tiên nữ mặc áo hồng ra đi ngã cửa nam, có một người cầm tiên bàio đi trước, trên kim bài có đề hai chữ  “ Sắc Giáng ”, ở đoạn dưới có hai chữ : “ Nam Nam ” ở dưới nữa thì có nhiều chữ nhỏ, vì Lê Thái Ông đứng xa trông không được rõ.

Lê Thái Ông quay  lại hỏi hai ông lực sĩ rằng : “Đây là chỗ nào ? đó là ai? chuyện gì thế? ”.

Một người lực sĩ đáp rằng: “đây là Thiên Đình, người ngồi giữa là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, còn ngưòi con gái mặc hồng y là Đệ Nhị Quỳnh Nương bị trích giáng ”.

Người lực sĩ vừa nói xong thì ở phía sau là tả vu có một người quát hỏi các người làm chức tước gì ở nơi nào giám tới đây, hai viên lực sĩ thưa rằng chúng tôi là ngũ lôi thần binh, đến chờ chỉ, nói thế rồi hai viên lực sĩ lại đem ông về, lức về thì bên thành trống đã tàn canh, thì Lê Thái Ông dần dần tỉnh lại. Lê Thái Bà đã sinh đặng một người con gái rồi.

Mùi thơm ngào ngạt, ánh hào quang rực rỡ đầy nhà ai cũng lấy làm vui mừng, trong khi cả nàh đang vui mừng cười nói, xóm làng bà con xa gần đều đến viếng thăm mừng rỡ, hiện lúc đó thì ông đạo nhơn biến đi lúc nào không biết, ai lấy cho là sự linh cảm, ngợi khen và bái tạ ông đạo nhơn.

Bữa đó chính là ngày giáp dần giờ dần tháng ba ( mùng ba tháng bính thìn ) năm đinh tỵ niên hiệu Lê Thiên Hựu nguyên niên triều vua Lê Anh Tôn ( 1557 ).

Lê Thái Ông tưởng đến sự xuất thần cho được trông thấy như thế, ắt là Tiên Nữ giáng sinh, rất là mừng lắm cho nên mới đặt con tên là Lê Thị Thắng hiệu là Giáng Tiên.

Nhà Lê Thái Ông, sở dĩ là được Đức Tiên Chúa bẩm sinh vào đó là nhờ được ngôi một tổ tam đại kết ngôi mộ đó toạ không hướng cấn ở xứ La Hào, thuộc làng An Thái huyện Vụ Bản.

Đức Tiên Chúa lớn lên, da trắng phau, tóc mây xanh mướt, mắt lonh lanh như thu ba, mày vòng cong hình bán nguyệt, nhan sắc dị thường, trần gian hiếm có.

Lê Thái Ông cùng Lê Thái Bà yêu dấu như châu, như ngọc. Cả ngày chỉ thay nhau bồng ẵm, tháng ngày thoi đưa, chẳng mấy chốc mà Đức Tiên Chúa lên năm tuổi, thường thường Đức Tiên Chúa ra chơi nhà ngoài, hỏi Đức Thái Ông những chữ trên câu đối, Lê Thái Ông bày qua cho một lượt Đức Tiên Chúa nhớ suất cả.

Lê Thái Ông thấy tư chất thông minh, mới bày cho vịnh phú ngâm thơ, và cho đi học. Đến năm mười tuổi ( 1566 ) là ngũ kinh tứ thư Đức Tiên Chúa đã thuộc lòng thông thạo, nói tóm lại Đức Tiên Chúa thông minh vốn sẵn tự trời và lại nhà Đức Thái Ông lại đông khách kẻ ra người vào, nên Đức Tiên Chúa không chuyên cần đặng sự học hành nghiên bút.

Đức Tiên Chúa liền xin phép Lê Thái Ông cùng Lê Thái Bà ra ở riêng một cái nhà ở vườn sau cho tịnh để đọc sách ngâm thơ, hai thân liền bèn chiều ý Đức Tiên Chúa.

Vì Lê Thái Ông và Lê Thái Bà thấy Đức Tiên Chúa thiên tư minh mẫn, nên đã làm săn cái nhà, đó là bản tâm để cho Tiên Chúa tịnh dưỡng và tiện bề đèn sách.

Đức Tiên Chúa thường hay đề thơ vịnh phú, đọc sách gẩy đàn.

Một ngày kia Lê Thái Ông dạo chơi trước sân, bỗng nghe Đức  Tiên Chúa gẩy tiếng đàn thanh tao, văng vẳng như nhạc quân thiên ở trên Thiểm cung mà ông đã nghe trong mê thiếp theo hai viên lực sĩ ngày trước đó.

Lê Thái Ông mới nghĩ rằng, con mình là người Thiểm cung, thác sinh về nhà mình là nhà trần gian sợ không nuôi được lấy làm lo cho tương lai của con, nghĩ thế liền bàn với Lê Thái Bà rằng, con mình tôi dợ e khó nuôi, chúng ta lên đem gửi cho ông bạn là Trần Công  là nghĩa nữ.

Bàn thế  Đức Thái Ông cùng Đức Thái Bà đồng ý. Liền đem Đức Tiên Chúa gửi cho Trần Công, thì Đức Trần Công vui lòng nhận Đức Tiên Chúa làm nghĩa nữ.

Nguyên Trần Công là một ông quan hồi hưu, dòng dõi Trần Triều, kiều cư vào thôn Vân Cát, là quán cửa Thân mẫu ngài. Sau khi Trần Công đã bằng lòng nhận Đức Tiên Chúa làm nghĩ tử rồi Đức Thái Ông làm cho Đức Tiên Chúa một ngôi nhà lớn ở sân gần bên vườn hoa, cho Đức Tiên Chúa ra đó ở cho thanh tịnh cố chăm lo đèn sách.

Lại có một nhà lão quan họ Trần không có con nguyên một đêm kia, nhơn khi nhà hạ gió mát trăng thanh mới dạo gót ra vườn hoa chơi, tự nhiên gặp một đứa bé trai ở dưới gốc cây đào, ngài Trần lão quan liền đêm về nuôi đặt tên là Đào Lang.

Ngài xét thấy Trần Đào Lang thông minh đĩnh ngộ, diện mạo khôi ngô, Ngài liền cho đi học vì Trần lão quan cùng Trần lão bà không con nên thương chàng Đào như con đẻ, hết sức dạy vẽ đủ điều. Chẳng bao lâu đã vưn hay chữ tốt, tiếng tăm lừng lẫy khắp trấn Sơn Nam.

Đến năm quý dậu niên hiệu Gia Thái nguyên niên triều Vua Lê Thế Tôn (1573).

Chàng Đào Lang lên hai mươi tuổi, mà Đức Tiên Chúa đúng mười bảy tuổi, thường ngày Trần lão quan hay qua lại chơi nhà Đức Trần Công thấy Tiên Chúa nhan sắc tuyệt vời, thông minh quần chúng, bèn cậy người mai mối tới Lê Thái ông đẻ cầu hôn cho Đào Lang.

Song thân của Đức Tiên Chúa và Đức Trần Công nghĩ rằng nhà họ Trần lão Công cùng dòng dõi trâm anh, mà chàng Đào học hành cũng nức tiếng, đã đồng hương lại cân đối tài sắc, nên song thân của Đức Tiên Chúa cùng phụ, dưỡng mẫu đều ưng thuận.

Nhưng Đức Tiên Chúa một hai không chịu chỉ muốn thanh tu cho khỏi trần luỵ, nhưng Lê Thái Ông cùng Lê Thái Bà đôi ba lần khuyên giải và nhứt định hưa hôn cho chàng Đào Lang.

Tiên chúa tự nghĩ đã xuống cõi trần, thôi… cũng đành tạm kết duyên cho tròn quả kiếp, nên bất đắc dĩ cũng phải vâng lời cho đẹp lòng song thân.

Đến năm mười tám tuổi Đức Tiên Chúa bái biệt thân phụ thân mẫu về vu quy với chàng Đào Lang.

Khi Đức Tiên Chúa từ giã song thân, trở về với lang quân, cử chỉ trong gia đình rất là nghi lễ kính thờ cha mẹ, giữ đạo thành hôn, trong họ ngoài làng ai ai cũng đều khâm phục.

Được một năm Đức Tiên Chúa sinh được một người con trai, đặt tên là Trần Nhâm, mặt vuông tai lớn, miệng rộng trán cao, thiệt đúng là trang hào kiệt. Những khi nhàn hạ chàn Đào cùng Đức Tiên Chúa xướng hoạ thi ca, quang cảnh lạc thú trong gia đình ai thấy cũng khen ngợi.

Nhưng… than ôi! tạo hoá trêu ngươi, ông xanh cắc cớ, không ngờ chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.

Đức Tiên Chúa tự nhiên không bịnh mà mất, hưởng linh đươcj hai mươi mốt tuổi, tạ thế ngày mồng ba giờ dần, tháng ba năm Đinh Sửư, niên hiệu Gia thái ngũ niên triêu vua Lê Thế Tôn (1577).

Tứ thân phụ mẫu của Đức Tiên Chúa đau lòng xiết nỗi thảm thương, làm lễ an táng rất hậu.

Mộ Đức Tiên Chúa táng tại cây đa bóng làng An Thái. Kế đó Đức Lê Thái Ông buồn sầu theo con rồi lâm bệnh cũng tạ thế mộ cũng táng tại đó, toạ càng hướng tốn, triều vua Gia Long thứ tư đổi xã An Thái làm xã Tiên Hương, đến nay vẫn còn đền thờ Đức Tiên Chúa tại đó.

 

 

Thông Tính Khi Giáng Khi Thăng Lần thứ hai.

———————————

Tính từ khi Đức Tiên Chúa giáng trần lần thứ hai là năm Đinh Tỵ niên hiệu Lê Anh Tôn, Thiên Hựu nguyên niên (1557) cho đến năm Gia Thái Đinh Sửu ngũ niên, triều vua Lê Thế Tôn là hai mươi mốt năm ( 1577 ), Đức Tiên Chúa từ khi thác hoá về chốn Đế Đình lấy sự trần duyên chưa mãn trong lòng áy náy khôn nguôi.

Mỗi khi lên chầu điện Ngọc Hoàng, sầu ủ mày xuân, lúc hội tiệc Vương Mẫu, châu chan nét ngọc, các vị Quần Tiên thấy thế cũng thương tâm, mới tâu bày cùng Thượng Đế.

Đức Thượng Đế mới sắc phong : “ Liễu Hạnh Công Chúa” cho phép trắc giáng phi thường, tiêu diêu tự thích khỏi nỗi u sầu.

Lúc đó tuân thừa mệnh lệnh, Đức Tiên Chúa về thẳng quê nhà, thì ở dưới này đã giáp lễ đại tường của Đức Tiên Chúa tức là năm kỷ mão niên hiệu Quang Hưng nhị niên triều vua Lê Thế Tôn ( 1579 ).

Từ ngày Đức Tiên Chúa tạ thế Lê Thái Bà sầu não, nhớ Tiên Chúa trong lòng sa xót nhơn một hôm từ mẫu của Đức Tiên Chúa ra thư phòng, kiểm điểm lại thư tịch và đồ dùng thì chỉ thấy chiều gió quấn mành xưa, mặt trời soi cửa sổ, đồ bài trí trước bàn son, nào là sách vở, nào là dàn sáo đều là nhện giăng bụi phủ, nên Thái Bà trông thấy quang cảnh thiệt là đồ vật tư nhơn nên động lòng quá nên ngất đi,

Hốt nhiên có một trận gió ở phương đông đưa lại, rồi thấy Đức Tiên Chúa hiện thân ôm lấy Lê Thái Bà mà gọi rằng: “ Thưa từ Mẫu lai tỉnh, con đã hạ trần xuống thăm từ mẫu. ”

Lê Thái Bà bàng hoàng mở mắt xem, rõ là Đức Tiên Chúa mới nói rằng Đức Tiên Chúa đi đâu về đó ? Chẳng phải con đã từ trần sao, hay là Tiên Chúa thần tiên bất tử ?

Tiên Chúa làm thinh ứa hai hàng lệ, lúc đó Lê Thái Ông và hai ông bà Trần Công cùng người anh là Lê Lục thấy thế xúm lại nửa mừng nửa sợ, chàng Đào Lang cũng vừa bồng con lại than khóc thê thảm.

Tiên Chúa gạt nước mắt lậy mà rằng : “ Con thật thất hiếu, luỵ đến song thân, không phải con không biết đạo làm con để vui vầy dưới gối, song vì duyên số khôn lường, số trời khó tránh, xin song thân nhẹ đoạn tình thâm, tạm thâu giọt lệ.”

Lúc đó Tiên Chúa lại thưa với thân huynh, nhờ thân huynh hầu hạ song thân, còn phần muội hết hạn phảỉ về chầu Thượng Đế.

Sau Đức Tiên Chúa lạy phu quân là chàng Đào Lang mà thưa rằng, xin phu quân bớt cơn sầu muộn để cho tiện thiếp phân biệt đôi lời, số trời đã định, cho tiện thiếp có ngần ấy thôi, xin phu quân xét lại mà di dưỡng tinh thần, kẻo hao mòn quý thể.

Kế đến Tiên Chúa lạy ông bà Trần Công mà thưa rằng: “ Xin hai thân yên lòng mà lượng thứ cho con ”.

Ông bà Trần Công nói rằng, từ khi âm đuơng cách biệt, chúng ta hồn vơ phách vẫn, ruột héo gan mòn, bữa thường ngao ngán, giấc những mơ màng, tưởng đến hình dạng con chẳng nguôi tấc dạ.

Đức Tiên Chúa vô cùng xúc động mà thưa rằng: “ Con là Đệ Nhị Tiên Cung, bị trích giáng, ngày nay đã từ giã cói trần, về chầu Thượng Đế, xong nghĩ đến ân thâm cúc dục nghĩa trọng cù lao, nên con xin tạm viếng thăm, gọi chút tạ ơn và cha mẹ có âm đức được liệt tên vào Tiên tịch ngày sau tất được đoàn viên.

Bây giờ chàng Đào bồng on ngồi nghẹn nói không ra lời, Đức Tiên Chúa thấy thế động tâm quá cũng rơi luỵ, bồng lấy con mơn mớn rất là thê thảm, chàng Đào nói rằng : “ Tôi may đựoc phối hiệp lương duyên, cũng mong được bách niên giai lão nào ngờ đâu nửa đường ly biệt, nặng gánh sầu tư nay lại được kết cái duyên tái sanh  nầy thật là hạnh phúc, xin nương nương lưu lại ”.

Đức Tiên Chúa nghe nói thế lại càng xa xót trong lòng, khóc mà thưa rằng : “ tôi cũng muốn ở lại hầu hạ lương nhơn cho trọn chữ tùng, nhưng số trời đã định, ở trần thế có chừng ấy thôi ”.

Nói xong sụp xuống lậy chàng Đào hai lậy rồi biến mất. Chàng Đào thương tiếc quá khóc nên, cả nhà ai cũng khóc rất là thê thảm.

Khi đó, một ánh hào quang trong nhà bay ra, mùi thơm ngào ngạt, rồi không thấy gì nữa.

Được ít lâu, chàng Đào tới kinh học tập và đem con theo nữa, nhưng phần thương con, phần nhớ vợ không tài gì học tập cho chuyên cần đặng, có một hôm đương tuyết sang thu, khí trời giá lạnh, lách tách mưa giỏ giọt thêm, nghe phiền trong dạ, chàng Đào buồn quá, bồng con ngồi ngâm hai bài tứ tuyệt cho đỡ buồn, thơ rằng:

Bài 1:

Trần kiếp ta hề lãng tử sinh

Tiền duyên ám tưởng bất thăng tình

Đương niên tư mã cầu hoàng khúc

Biến tác ly toan biệt hạt thanh

Dịch Nghĩa.

Kiếp bạc thương thay uổng một đời

Duyên xưa ngẫm lại lúc nào nguôi

Cầu hoàng Tư mã đàn năm trước

Loan hạc bây giờ bỗng lẻ đôi

Bài 2:

Cô sầu khách để bất thành miên

Huống thị thê phong khổ vũ thiên

Thiên nhược hữu tình ưng niệm ngã

Mạc giao phong vũ quá  song tiền.

Dịch nghĩa.

Quán khách buồn tanh gối chẳng yên

Huống trời mưa gió lại thêm phiền

Trời kia có ý thương ta nhỉ

Mưa gió đừng cho lọt mái hiên

Các tin mới hơn

Các tin cũ hơn