Đạo Mẫu Việt Nam:Thánh Mẫu Giáng Sinh Lần Thứ Ba

1609 – 1610

Nguyên trước Đức Tiên Chúa giáng sinh lần thứ hai hưởng thọ đặng hai mốt năm ( 21 ) tuổi vừa tạ thế.

Khi lê chầu Đế Đình, thường thường Tiên Chúa cứ sầu phiền sự trần duyên chưa mãn.

Đức Thượng Đế sắc phong “ Liễu Hạnh Công Chúa ”, cho phép trắc giáng phi thường, tiêu diêu tự thích, Đức Tiên Chúa vâng lệnh về thẳng quê hườn, hiện thân thăm tứ thân phụ mẫu và lang quân, tử tức và huyanh đệ.

Chính là năm kỷ mão niên hiệu Quang Hưng nhị niên triều vua Lê Thế Tôn ( 1579 ) tuy thế nhưng Đức Tiên chúa hiển thân về thăm quê hương hai lần rồi. Đức Tiên Chúa vân du thiên hạ khi ẩn khi hiện phi thường, lúc ngoạn cảnh danh lam, khi tiêu diêu bồng đảo trong vòng ba mươi năm, về sau chàng Đào tái sinh tức là Mai Sinh, bấy giờ chàng Mai Sinh được hai mươi tuổi.

Đức Tiên Chúa giáng hiện, tái hợp với chàng Mai Sinh là lần giáng thế lần thứ ba, kể từ đó tức là năm kỷ dậu niên hiệu Hoàng Định thập niên triều vua Lê Kình Tôn ( 1609 ).

Thế là Đức Tiên Chúa từ giã cảnh Tây Hồ qua núi Sóc Sơn Thanh Hoá, có một dãy núi toàn là cây đào xanh tốt, dưới lại có một hòn đá vuông bằng phẳng, Đức Tiên Chúa mới lấy cành lá quét sạch, ngồi chơi trông xem bốn bề cảnh trí thiên nhiên, không khác đào nguyên Tiên cảnh, nhưng hiếm có một nỗi vắng khách tri âm biết cùng ai ngâm thơ vịnh phú.

Đức Tiên Chúa lại gần bên khe nước ném hoa rụng mà chơi, bỗng thấy gã thư sinh, hình dung tuấn tú, cốt cách phi phàm thẳng đường Tây Mụ đi tới. Đức Tiên Chúa biết đích là Đức Lang Quân tái sinh mới đứng đàng xa bảo rằng: “ Tôi nhơn đi chơi hội, vì qua vui chân bước tới, bây giờ quên cả lối về, may gặp quý khách qua đường, xin mong ơn chỉ giúp? ).

Gã thư sinh kia ngỡ tưởng cô gái giang hồ, không bằng lòng nên giả cách không nghe thấy rồi cứ rảo bước đi thẳng.

Nguyên gã thư sinh đó chính là Đào Lang thủa trước, nhơn vì sầu uất, cho nên tái sinh lần nữa, lần này tái sinh vào nhà họ Mai làng Tây Mụ huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá. Chàng Mai tuổi mới hai mươi, chí khí khác thường, thông minh, song thân đều đã qua đời hết, anh em không có, nhà cửa lại nghèo, vợ con chưa có, ngày đó đi học về.

Không ngờ gặp Đức Tiên Chúa, tính ngài nghiêm chỉnh, ghét sự nguyệt hoa vả lại ngài không nhớ kiếp tiền sinh của ngài nên mới cự tuyệt.

Ngày bứa sau, chàng Mai Sinh đi học lại đi ngang qua đó, thấy có một mảnh giấy dán ở cây đào trông có bài thơ vịnh cây đào rằng:

“ Diệm chất thiên nhiên bất giả tài

Phương tâm trinh thủ kỷ niên lai

Khi dung trần tục đẳng nhà kiến

Trực đãi xuân quân thư đệ khai

Tố nữ tương tri trường ngã chiếu

Phong di truyền tín vị thuỳ môi

Tảo trí lưu thuỷ vô tình luyến

Mạc tử phi hồng trục khách bôi.”

` Dịch nghĩa,

Vóc đẹp trời sinh há sửa bày

Lòng thơm gìn giữ mấy năm nay

Dễ dàng mắt tục bao giờ thấy

Lần lượt mùi hoa đợi gió bay

Bóng nguyệt quen nhau sai đó mãi

Tin xuân dưa mối đợi ai rày

Sớm hay dòng nước tình ai lãng

Nỡ để hồng rơi dục khách say.

Chàng Mai Sinh xem song bài thơ, khen rằng “ thật là tài nhả ngọc phun châu, không ngờ giữa trần thế đây lại có tiểu thư nào tài tình đến thế, thật là đáng phục ”. Khi đó chàng Mai Sinh liền hoạ lại một bài thơ rằng:

“ Tạc kiến giao trì điện ngoại tài

Như hà Tiên chủng lạc trần lai

Mảng tiền phàm thảo nhàn vô ngữ

Độc bạn u lang không tự khai

Huyền quảng phong quang ưng thủ tiếu

Châu môn cuồng đảng, cảm thông môi

Tương phùng lâm hạ, tăng trù trướng

Dục tuý là phù nhứt tửu bôi. ”

Dịch Nghĩa.

Liếc mắt đền Giao trước sẵn bầy

Giòng Tiên lưu lạc tới gì đây

Chán trông ngọn cỏ thầm thầm nín

Tiêng với mùi lang thoang thoảng bay

Đàn sáo xôn xao cười những thế

Bướm ong lơi lả dám đâu rày

Dưới rừng gặp gỡ càng vơ vẩn

Một chén non thần đã muốn say.

 

Chàng Mai Sinh đề thơ song, muốn đi tìm tiểu thư, nhưng sợ đường đột quá, vả chăng bữa trước thì làm sao, nay đi chỗ này, chỗ khác mà tìm cũng bất nhã, nên phải nén lòng mà về.

Lúc bấy giờ trời mưa dầm, ngót đã mấy ngày, lòng càng áy náy, chàng Mai Sinh liền làm luôn một bài thơ nữa cho thoả tình khát vọng.

Ngâm Rằng:

Tài hà giai, tình hà hào, nhứt phiêsn tài tình khiêu khách nào, khách nào kỷ thời hưu, tương tầm bất phạ giao.

Phong nhứt khởi, vũ nhứt khí, vu ta chỉ xích thành thiên lý, vũ bá phong dĩ nhất bạc tình, xuân sầu tịch mịch hột thường khuýnh kỷ hồi mộng nhiễm đào nguyên lý, dục bả thiên kim mãi nhứt tinh.

Dịch nghĩa

Tài kia giỏi, tình này hay, tài tình trêu ngươi chi lắm nỗi, trêu nhau thế thế à, tìm nhau chẳng ngại xa, cơn mưa cầm, cơn gió bấc hỗi ơi! Gang tấc xa thẳm, gì gió anh mưa tệ lắm thay;

Buồn xuân vắng vẻ chốt thoan nầy

Nguồn đảo xa thắm chừng bao nhỉ ?

Mưa tạnh nghìn vàng cũng muốn ngay.

Cách hôm sau, mưa hoà gió tạnh, trời đất quang minh , chàng Mai Sinh đi ra vẫn tưởng bài thơ chàng đế bữa trước, bị mưa phai lợt, chẳng biết tiểu thư nhà nào đã đọc đền cho chàng, khi chàng đến nơi xem, thì hoa đào tươi thắm, như lúc chưa mưa, bài thơ nét mực như y, mà người ngọc bây giờ không thấy, chàng Mai Sinh lại đem thơ trước, hoại lại thêm một bài nữa rằng:

“ Vạn chủng tương tưtrấn nhựt tài

Tầm phương nhãn phụ thử phiêu lai

Sổ hàng cẩm tự nhơn như tại

Nhứt trận xuân phong, hoạ chính khai

Thuỷ cổ trùng mông, quân hữu ý

Khiêu kỳ thác hận ngã vô môi

Vu ta kỳ ngộ thành ô hữu

Sầu hải mang mang tiếp độ bôi. ”

Dịch nghĩa

Trăm mối sầu riêng những rối bầy

Một phen nỡ phụ tới tìm đây

Người in chữ gấm đôi hàng mới

Hoa bén mùi xuân một tràn bay

Dạ ngọc ân cần khen đó cũng

Tin sương ngơ ngát giận ta rày

Than ôi ! gặp gỡ còn đâu thấy

Man mát bể sâu mượn chén say.

Chàng Mai Sinh hoạ bài thơ xong, bỗng nghe trong rừng có tiếng chào hỏi:

Chàng Mai Sinh ngoảnh ra xem, thấy Đức Tiên Chúa không xiết nỗi mừng, liền đến trước thi lễ mà thưa rằng:

Ngày trước được mong ân Đức Tiên Chúa có lòng hỏi đến, bần sanh này lấy làm cảm tạ, nhưng mắt trần không biết, dạ tục rất ngây, hồi tỉnh lại lúc đầu gặp gỡ, thơ sanh mong ân chẳng xiết, không ngờ hôm nay, Tiên nữ còn đoái tưởng đến hà nho, mà cho tái ngộ không biết quả phúc thế nào nay được như vậy.

Đức Tiên Chúa mời chàng Mai Sinh ngồi trên một tảng đá trắngn bằng phẳng như bức ghế cẩm thạch, chàng Mai Sinh ngồi đoan toạ, Đức Tiên Chúa thưa rằng:

“ Thiếp cũng là con nhà khuê các, ở nơi cạnh huyện này, song thân đều tạ thế, nhà cửa tiêu điều, không được bằng ai, nên phải lảnh chỗ phồn hoa, vào nơi lâm tuyền tịch mịch; may nay, thiếp gặp người kiệt sĩ chơn nho, nên có ý giao cầu, nếu chàng không ngại ngần gần xa cho thiếp kết nghĩa trăm năm,thế là ba sinh hương lửa ”.

Chàng Mai Sinh nghe bấy nhiêu lời chân trọng, đính ước trăm năm, rất là cảm tình.

Liền nói với Đức Tiên Chúa rằng:

Đa tạ Tiên nữ có lòng hạ cố; chẳng phụ kẻ hàn nho: nhưng song thân tôi đều mất sớm, anh em chẳng có nhà cửa lại sơ sài, thanh đam, chỉ một một mình theo việc bút nghiên.

Nương thân cửa Khổng, bây giờ tiên nữ có lòng đoái tưởng, tôi đâu dám phụ lòng.

Nhưng xin Tiên nữ miễn chấp cho tôi sẽ liệu bề mai mối.

Khi đó Đức Tiên Chúa nghiêm nét mặt mà thưa rằng:

Hai bên song thân quá cố, họ hàng thân thích đều không,biết lấy ai mà cậy người mai mối.

Thế đôi bên, “ thiết bàn bái yết Thiên đình để xin kết duyên cầm sắt. ”

Đức Tiên Chúa thưa song bấy nhiêu lời kề vịnh một bài như sau:

Thơ rằng:

Thiên thọ đào hoa hậu độ tài

Lưu Lang hà hạnh hữu trùng lai

Bách niên duyên trái hoàng thiên thập

Vạn học u sầu tận bãi phai

Thuỳ vị sích thằng đồ lãng ngữ

Ưng tri hồng diệp thị lương môi

Cao châm tự cổ đa tiền định

Mạo oán Thiên Đình truỵ ngọc bôi

Dịch Nghĩa

Mấy cụm đào hoa vẳn lại bày

Chàng Lưu nay lại trở về đây

Trăm năm duyên nợ dành xong hẳn

Muôn hộc u sầu cũng xoá bay

Duyên bén tơ hồng ai bảo chẳng

Mối đưa lá thắm bấy lâu nay

Cảo châm định định trước từ xưa vậy

Chớ oán sân trời vỡ chén say.

Chàng Mai Sinh nghe đến câu kết, mới hỏi nghĩa làm sao có chữ “ Thiên Đình ” với chữ “ Ngọc Bôi ”?

Đức Tiên Chúa thưa lại rằng, việc này sau sẽ biết, bây giờ tôi không giám thưa rõ, chàng Mai Sinh nghe vậy không giám hỏi nữa, liền theo nguyên vận hoạ lại;

Thơ Rằng:

“ Làm ngọc hà duyên phải cảm chủng tài

Hỷ phùng giai ngẫu tự thiên lai

Tích niên thu giạ, ngân kiều cách

Kim nhựt xuân viên ngọc toản khai

Xương thế tảo phùng phi phụng bốc

Ngự băng bất giả lịnh cô môi

Hàn nho giao bào tương hà nhi

Nguyện bả tân thi tạ nhứt bôi ”.

Dịch Nghĩa

Lam ngọc duyên đâu, dám chắc mà

Lứa đôi may gặp tự trời cho

Xưa cầu ngân hán còn ngăn lại

Nay khoá vườn xuân đã mở ra

Bói hộp điềm lành, tin phụng đó

Vẳn đưa lời mối mặc ta hồ

Lấy gì tỏ giải lòng cho được

Xin mượn tơ tình tạ chén say.

Đoạn Đức Tiên Chúa với chàng Mai Sinh, hai ngài chỉ non thề ước, lậy tạ cao xanh.

Bây giừo hai ngài mới kết duyên cầm sắt, một nhà sum hiệp, khi ăn nói, lúc lễ nghi, xem trông âu yếm, đều cùng kính yêu.

Đó là Đức Tiên Chúa giáng sinh lần thứ ba tái hiệp với chàng Mai Sinh, là năm Kỷ Dậu tháng hai trọng xuân niên hiệu Hoàng định thập niên triều vua Lê Kính Tôn ( 1609 ).

Lúc bấy giờ chàng Mai Sinh đã phối hiệp được vợ, đã phong tư diêm thế, sắc tướng nghiêm trang, rồi từ đó về sau, cầm sắc hoà minh, khuê phòng lạc thú, cho nên có ý sao lãng sự học hành, không được chuyên cần như trước nữa. Lúc Tiên Chúa thấy thế không bằng lòng, một hộm Đức Tiên Chúa dệt vải đã khuya mà vẫn cứ dệt, để chờ Đức Mai Sinh đi chơi về, Đức Tiên Chúa mới lấy rượu ra ngồi đối ẩm, Đức Mai Sinh vô tình không biết, Đức Tiên Chúa không bằng lòng, nên mới bảo Đức Tiên Chúa rằng:

“Đêm nay trăng thu vằng vặc, cảnh sắc xinh tươi, trên trời nhị thập bát tú phân minh, Đức Tiên Chúa có nhớ ở chốn Thiên Tinh chăng nhỉ? ”

Đức Tiên Chúa nghe Đức Mai Sinh nói đến nhị thập bát tú, nên nhơn đó, lấy hai mươi tám vị sao làm một bài thơ khuyên phu quân.

Thơ Rằng:

Nữ nhan thuỳ vị viễn thơ phong

Tất bả Nguy tâm định chủ chương

Lân chẩn Thất Hư phân Bích diệm

Nguyệt đê bảo giáp tá lâu quang

Liễu văn Tinh bính tu Sâm cứu

Cơ truyện Ngưu mao yếu tỉnh tường

Thuỳ thổ Khuê hàng tranh quỷ đẩu

Vũ môn Nhực vỉ sáu dương cang.

Dịch nghĩa

Nữ nhan sắc có ở khuê phòng

Giữ vững lòng siêng để chủ chương

Bên xóm đèn giong, tia gọi đến

Góc lầu trăng xế, bóng soi ngang

Thể văn ông Liễu nên xem kỹ

Lối truyện chàng Cơ phải xét tường

Mở miệng thơ hay tranh giải nhất

Vũ Môn vùng vẫy chí thêm hăng.

Đức Mai Sinh nghe thơ, biết là Đức Tiên Chúa làm thơ đó có ý khuyên mình chăm học, nên hoạ lại một bài đảo vận, cũng dùng hai mươi tám vị sao.

Thơ Rằng;

“ Thôn Ngưu quật tinh chí phương cang

Cơ thụ sâm truyền dĩ tất tường

Đẩu thất bích đề kinh quy đởm

Nguy lâu khuê vịnh động tinh quang

Giác tài thuỳ vị đê đường Liễu

Nhựt mảo đa tâm vi hán trương

Tố nữ thanh hư ưng chẩn ngả

Quế chi nguyệt thuỷ tống văn phòng. ”

Dịch Nghĩa.

Nuốt trâu đào giếng chí đương hăng

Kinh truyện Cơ, Sấm đã biết tường

chữ vách đề xong hồn quỷ khiếp

Thơ lầu ngâm đoạn, bóng sao ngang

Thi tài ai bảo thua ông Liễu

Giáp sức ta nào kém họ Trương

Ả Tố sẵc lòng thương ta nhỉ

Thì đem cành quế tới văn phòng.

Đức Tiên Chúa nghe Đức Mai Sinh hoạ thơ song liền nói rằng:

Kẻ nho nhã học cho cách vật trí tri, thông kim, bát cổ, đề ra thi thố với đời, lập lên sự nghiệp, còn như học vấn văn chương phù phiếm, vịnh phú ngâm thơ, chẳng sai lắm ru, xin phu quân tỉnh ngộ.

Đức Mai Sinh hai ba lần tạ lỗi nói rằng: “ Tôi sức tài hèn mọn, đáng chí phóng tâm, may nhờ hiền thơ nhắc nhủ ”.

Đức Tiên Chúa nghe nói, biết là Đức Lang Quân hối quâ, lấy làm vui mừng, nên lại trò chuyện xướng hoạ cùng nhau đến khi trăng lặn mới nghỉ.

Được hơn một năm, Đức tiên Chúa sinh một con trai, đặt tên Mai Cổn, thông minh đỉnh ngộ, biện mạo khôi ngô, thế gian ít có, sang năm sau Đức Mai Sinh đi thi, đậu cả hương và hội, xung vào hàn lâm viện, rồi bổ ra làm quan. Tính ngài giản dị cho nên công việc cũng rảnh rang, thườn thường cùng Đức Tiên Chúa uống rượu ngâm thơ, bên xướng bên hoạ, như gấm dệt, như hoa thêu.

Cảnh lạc thú trong gia đình Đức Tiên Chúa diễn ra như thế, được gần một năm thì hết.

Một hôm về cuối mùa đông, khí trời rét mướt Đức Mai Sinh cùng Đức Tiên Chúa ngồi đối diện bên cạnh lò lửa chuyện trò rất tri kỷ, ân nghĩa mặn nồng, thiệt là tâm đầu ý hiệp.

Hốt nhiên, nước mắt Tiên Chúa chảy xuống như mưa, bức tức nghẹn lời, nói không ra tiếng. Đức Mai Sinh lấy làm ngạc nhiên, hỏi cớ làm sao, Đức tiên Chúa thưa rằng:

“ Thiếp đây là Thiên Đình Đê nữ, chỉ vì nỡ tay đánh rơi chén ngọc, nên phải tạm trích xuống trần, thiếp cũng đã cùng phu quân tác hiệp một kiếp trước rồi, nhưng trần duyên chưa mãn, kiếp này lại tái hiệp một lần nữa, nay trích kỳ đã hết; thiếp phải phụng mạng về trời.

Nhưng thảm thay…thiếp nghĩ đến phu quân gối chiếc chăn đơn, khuy sớm không ai hầu hạ, nghĩ đến con thơ đầu xanh tuổi trẻ, ngày đêm ai kẻ bồng bế, thì lòng thiếp không nguôi cơn giận, khó nỗi khuây sầu…”

Thôi…nhưng …mà…ly hiệp bởi trời, hoan bi thường sự, bây giờ dẫu phiền sầu cho ra tóc bạc mà khóc cho chảy máu đào, cũng là vô ích.

Vậy, thiếp kính lậy phu quân, xin phu quân đừng quá thương tâm, mà không giữ nổi mình vàng vóc ngọc. huống chi con còn măng sữa, anh em chẳng có một ai, bây giờ thiếp phải về chốn Thiên Cung, chỉ có một mình phu quân, khi đau ốm lúc sầu phiền, lấy ai là người giúp đỡ, xin phu quan nghĩ lại, thiếp cũng biết sinh ly từ biệt thê thảm nhường nào, kể sao cho xiết, thứ cảnh thứ tình để cho phu quân trăm bề thống khổ, lòng thiếp thê thảm trăm đường cũng như phu quân vậy.”

Đức Mai Sinh nghe nói, mắt vía hồn kinh, chân tay rời rã, rồi nói rằng:

“ Tiên, trần xa cách, may được kết duyên, nghĩa vợ chồng lẽ nào mà quên được; ôi ! sao mà dễ hiệp lại dễ ly như thếư .”

Đức Tiên Chúa thưa rằng:

“ Thiếp thờ phu quân đã bao nhiêu nay, xin phu quân lượng xét, thiếp không phải ham chơi bồng đảo, mà quên nghĩa tào khang, nhưng kỳ hạn quy tiên đã bức cận, không thể lưu lại được nữa.” Đức Mai Sinh nghe Tiên Chúa nói dứt lời thì Đức Mai Sinh lấy làm kinh hoàng, nức nở khóc không nói phô gì được nữa, đến cuối canh ba khi giờ sửu, Đức Tiên Chúa bồng con đến trước mặt Mai Sinh, Đức Tiên chúa khuyên giải một hồi, rồi cúi xuống lậy Mai Sinh hai lậy, để xin từ biệt; lậy rồi cầm lấy tay Mai Sinh khóc nức nở, tình cảnh thê thảm, Đức Tiên Chúa hết sức đau lòng.

Bỗng nghe có tiếng xe loan đã đến gần trước thềm nhà, Đức Tiên Chúa lại phân giải ít lời nữa, rồi bồng con trao cho Đức Mai Sinh.

Đức tiên Chúa quá đau đớn, lắm tay Đức Mai Sinh và tay con, một cách thê thảm vô hạn…kế lạy Mai Sinh mà bái biệt.

Đức Mai Sinh muốn níu lấy vạt áo, nhưng khi thấy ánh hào quang rực rỡ, thơm ngát cả nhà, Đức Tiên Chúa không còn ở chỗ đó nữa, Đức Mai Sinh xót ruột đau lòng quá độ, bổ nhào xuống đất, ngất đi một hồi lâu mới tỉnh.

Thế là Đức Tiên Chúa bái biệt Đức Mai Sinh khi đó hoá ra đạo Hào Quang sáng rực, mà đẳng không nhỉ thượng cả chơn hình, tức là hạ tuần tháng chạp năm canh tuất, niên hiệu Hoàng định thập nhứt niên, triều vua Lê Kính Tôn ( 1610 ) là hơn một năm.

Từ đó trở đi, Đức Mai Sinh ngày đêm rầu rĩ, chiều sớm nhớ thương, rượu không uống thơ không ngâm, việc quan bê trễ.

Thường thường than rằng:

“ Phàm người ta đi học ra làm quan, trên là vì nước, dưới là vì nhà, như ta đây đã không có tài kinh bang tế thế, và trên không có mẹ cha, dưới không có vợ và anh em lại đeo lấy cái luỵ độc túc cô phòng, thế là có phải vì sự ăn mặc hay sao, mà còn đeo vào vòng danh lợi ”.

Nghĩ vậy ròi dâng sớ xin về hưu, về làm một cái nhà giữa rừng đào khi xưa đã gặp Đức Tiên Chúa, để dạy con thành tài trọn đời ở vậy.

 

Thông Tính Khi Thăng Khi Giáng lần thứ ba

Tính từ khi Đức Tiên Chúa giáng hiện lần thứ ba tại Sóc Sơn tỉnh Thanh Hoá, tái phối với Đức Mai Sinh là tháng hai năm Kỷ Dậu niên hiệu Hoàng Định thập niên triều vua Lê Kính Tôn ( 1609 ).

Cho đến khi Đức Tiên Chúa bái biệt Đức Mai Sinh mà lên tiên cung, là hạ tuần thánh chạp năm Canh tuất, niên hiệu Hoàng Định thập nhứt niên triều vua Lê Kính Tôn ( 1610 ).

Thế là lần thứ ba Đức Tiên Chúa tái phối hợp với Đức Mai Sinh hơn một năm. Nói về Đức Tiên Chúa khi lên Linh Tiêu, tâu với đức Thượng Đế: “ cái án trích giáng trần của con nay đã hết hạn, nhưng con nhớ nghĩa ba sinh, tình duyên chưa đoạn, cúi đầu lậy xin Phụ Hoàng ban cho con đặc ân trắc giáng bất thường để được vãn lai trần giới.”

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế xét thấy hai lần Đức Tiên Chúa bị tình duyên lỡ dở, nghĩ cũng thương tình, nên chuẩn tâu.

Rồi đòi nhị vị Tiên Nương, một vị là em dâu Đức Tiên Chúa, một vị là cháu Đức Tiên Chúa rồi ngài phán rằng:

“ Phen này Quỳnh Hoa ( ttên Đức Mẫu ) xuống trần tất có sự hay, bây giờ ta cho hai Nương đi theo để giáng phúc cho dân.”

Đức tiên Chúa và hai vị Tiên Nương đó, đều lậy tạ Đức Thượng Đế và hạ giới.

Đức Tiên Chúa và Hai Vị Tiên Nương Hiển Thánh.

Phố Cát Tỉnh Thanh Hoá chỗ đó rừng xanh cây tốt, cảnh trí thiên nhiên. Ba ngài mới hiển linh ở đó dân thôn kinh sợ bèn thiết lập đền thờ.

Khoảng năm niên hiệu Dương Hoà thứ nhất ất hợi, triều vua Lê Thánh Tôn ( 1635 ), khách bộ hành đi qua lại trước đền thờ đó, không có lễ phép, và không xuống ngựa, xuống võng, đều bị ba Ngài khiển trách chết không biết mấy.

Lúc đó triều đình ngỡ là yêu quái, Sắc Mịnh cho ông Trịnh Hoàng Phúc đem một đạo binh tới đó trừ yểm.

Trịnh Hoàng Phúc cũng sợ khó lòng làm nổi, nên mời một ông thầy Phù thuỷ có danh tiếng trong nước, vào đó hoạ phù yểm trước rồi mới cử binh đi sau.

Thầy phù thuỷ cùng bốn người đạo tràng, vừa vào tới Đào Ngang ( gần hạt Phố Cát ) thì gặp một bà già, chống cây gậy trúc đi lom khom bên đường, thầy phù thuỷ hỏi rằng:

“ Thưa bà, nghe nói ở đây có một con yêu tinh thường hay quấy nhiễu nhơn gian lắm phải không? ”

Bà lão đáp rằng: “ phải ! nhưng ông hỏi làm gì? ”

Thầy phù thuỷ nói: “ Tôi là Pháp sư, ra đây để trừ yểm con yêu tinh đó, cho dân gian khỏi bị tai hại vì tay nó nữa ”

Bà lão lại cười : “ chớ ! ông phải coi chừng với con yêu tinh đó, nó cao phép lắm lắm, chưa chắc ông trừ được nó, lại nguy hiểm đến tính mạng nữa, tôi khuyên ông về thì hơn. ”

Pháp sư nói: “ Bà lão không phải lo gì, chuyến này nó sẽ biết tay tôi ”.

Bà lão nói: “ Pháp sư ơi, con yêu tinh đó kia kìa, chính nó đã hiện ra cô gái đẹp đương đi lại đó, ông phải lo mà chạy kẻo khốn ”.

Bà lão vừa nói vừa chỉ tay ra đằng xa, Pháp sư ngó theo không thấy gì cả, đến khi ngoảnh mặt hỏi bà lão, thì bà lão đâu chỉ thấy một cô gái thật đẹp ngó pháp sư mà cười một cách rất là kiêu ngạo, Pháp sư nổi giận nói:

“À!mày giám hỗn với tao à? ”

Nói xong, niệm chú bắt quyết liên thiên, mà cô gái vẫn cứ ung dung đứng cười như trước, pháp sư càng ấn quyết, thì cô gái lại càng cười thêm, pháp sư tức giận quá, rút thanh gươm ra chém, cô gái đó cứ từ từ đi thụt lùi.

Pháp sư chạy theo hết sức cũng không kịp, chỉ cách vài thước mà thôi, pháp sư cố gắng hết sức bình sanh, chạy đưỏi cho kịp, không ngờ khi lại gần đến nơi, thì vấp phải hòn đá chẹn ngang đường, ngã lăn xuống đó, sặc máu chết tươi, còn cô gái thì biến mất.

Mấy người đạo tràng đi theo pháp sư thấy vậy kinh hoàng liền về bẩm với Trịnh Hoàng Phúc Thúc, khi đó Trịnh Hoàng Thúc trong lòng bối rối, tấn thoái lưỡng nan, như đi thì sợ Đức Tiên Chúa làm chết, còn về e Triều Đình bắt tội. Sau đó ông quyết lòng đi, vì trước đã khỏi trái vưong mệnh, mà sau khỏi bị nhục với triều đình, dầu có chết cũng vinh.

Nghĩ vậy, nên quyết chí cử binh đi, khi đi đường, gần đến Đèo Ngang thấy xác Pháp sư còn lằm ở đó, chẳng có hòn đá nào to lằm chặn đường cả, quân lính thấy thế lấy làm kinh hoàng lắm…

Khi đạo quân đi đến Phố Cát, thì Trịnh Hoàng Thúc ra lệnh đốt phá đền miếu, tức thì tên bắn mù trời, sấm vang dậy đất, non sông biến sắc, cầm thú kinh hoàng, trong chốc lát toà Đền ra tro. Không còn một mảy may gì cả, đốt đền song, Trịnh Hoàng Thúc vẫn bình yên vô sự.

Cách vài tháng sau, cả hạt đó mắc chứng ôn dịch, người và súc vật chết không biết mấy, dân thôn mới lập đàng cầu đảo, khi đó, hốt nhiên có một tiếng, rồi bảo rằng:

“ Ta đây! Là Liễu Hạnh Công Chúa giáng ứng linh đồng, bảo cho các ngươi biết, chúng ngươi phải tâu với triều đình sửa lại Đền miếu hương hoả phụng tự, nếu không nghe lời, chúng ngươi còn bị hại nữa ”.

Trong dân thôn có người hỏi: “ Tâu Công Chúa, như ngài quả thiệt linh ứng, sao ông Trịnh Hoàng Thúc đem binh ra đốt phá Đền Ngài, Ngài lại không làm hại, còn như chúng con không có tội gì Ngài lại trách phạt là nghĩa làm sao ? ”

Người đó vẫn đứng trên hương án nói: “ Ta không phải là không thiêng, mà không phải ta sợ gì Trịnh Hoàng Thúc, nhưng ta không muốn làm chết ai, là vì Trịnh Hoàng Thúc phụng mạng Vương Mạng, mà phá Miếu Đền, chứ không phải lòng nó muốn thế, như ta giết nó, ta mang tiếng chống Vua, nên ta không muốn giết, còn quân lính thì theo quân lịnh mà làm chứ chúng có giám ngạo mạn gì mà trị tội cho dáng.

Còn chúng ngươi tuy không đốt phá, nhưng vì quá ngu suẩn, há mấy lâu nay lại không biết chị em ta hiển ứng ở đây sao? lại còn ngờ là yêu quái để đến nỗi triều đình phải sai quan quân ra đốt phá đền ta, cho ta mang lấy tiếng bởi thế, ta mới trị tội các ngươi bởi lẽ đó. ”

Người đó nói xong, thì bổ ngửa xuống đất, một hồi mới tỉnh, ( người đứng trên hương án truyền đó, tức là Đức Tiên Chúa giáng đồng vào người đó ).

Lúc bấy giờ, dân thôn vâng lời, cử mấy ông Hương lão tới cửa Đế Đô để tâu bầy lai lịch sự linh ứng của Đức Tỉên Chúa.

Vua mới sắc hạ cho sửa Đền Miếu lại rất nguy nga tráng lệ.

Các tin mới hơn

Các tin cũ hơn