NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC PHẬT GIÁO

Lời Mở Ðầu – Vị Trí Của Hàng Phụ Nữ Trong Phật Giáo

Khi Ðức Phật Siddhattha Gotama (Sĩ Ðạt Ta Cồ Ðàm) thị hiện ở Ấn Ðộ cách nay hơn 2,500 năm về trước, người phụ nữ có một địa vị rất thấp kém và đê hèn trong xã hội Ấn Ðộ. Vào thời bấy giờ, trong phần còn lại của thế giới văn minh, trải dài từ Trung Hoa đến Hy Lạp, vị trí của người phụ nữ vẫn khiêm nhường và hạ cấp. Ngày nay, cùng khắp nơi ai ai cũng nhìn nhận rằng Ðức Phật là người đã sáng lập một tôn giáo được truyền bá sâu rộng trên thế gian, phổ cập đến những hang cùng hóc hẻm của quả địa cầu, đã ban truyền một triết lý huy hoàng và vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng loài người.

Nhưng vai trò phục hưng xã hội và cách mạng văn hóa của Ðức Phật, rất kỳ diệu và phi thường, đôi khi bị các sử gia Phật Giáo lãng quên.

Quan trọng nhất trong các đổi mới mà Ngài đem lại cho cơ cấu xã hội loài người vào thời bấy giờ là sự phá tan hệ thống giai cấp rất tai hại và giải phóng hàng phụ nữ. Với lòng quả cảm hiếm có đáng được lưu ý Ngài chỉ vạch tánh cách vô lý và điên rồ của những ràng buộc nghiêm khắc trong sự phân chia giai cấp và tình trạng nô lệ của người phụ nữ. Ngài phục hưng hai vấn đề tối trọng yếu ấy trong tập tục và tư tưởng con người mà vào thời bấy giờ đã thấm nhuần tận xương tủy người Ấn. Ngài biến chuyển một xã hội đã lún sâu trong thành kiến mù quáng và lòng mê tín ẩn tàng trở thành lành mạnh, dũng cảm và có nền đạo đức trong sạch.

Từ xa xưa trước thời Ðức Phật, giai cấp Bà la môn (brahmin) vẫn giữ toàn thể dân Ấn trong bàn tay sắt của họ, dìm thấp người phụ nữ xuống hàng tôi đòi hay nô lệ. Người đàn bà không có quyền gì của mình, không tự do ăn nói, mà phải tự giam hảm trong bốn bức tường của nhà mình và được xem là không xứng đáng được hưởng bất luận gì cao hơn là hàng tôi tớ của chồng, của cha hay của anh. Nữ giới không bao giờ được sắp ngang hàng với nam giới trong xã hội.

Theo sách Manusmrti, The Laws of Manu, một quy luật để hướng đạo số phận của cuộc sống trong xã hội Ấn Ðộ thời xưa mà nhà làm luật nổi tiếng Manu đã ban hành, hôn nhân là tăng cường những ràng buộc cột trói người đàn bà trong vòng nô lệ, siết chặt trọn cuộc đời vào người đàn ông — là một phần của chồng, là người làm công, người giúp việc để phục vụ chồng.

Vâng dạ phục tùng chồng, thi hành những gì chồng sai bảo, luôn luôn làm theo ý muốn của chồng, chỉ bấy nhiêu đó cũng có đủ tư cách cho người vợ vượt qua cánh cổng của cảnh trời. Không như người nam, người nữ không cần phải tế lễ hay thực hành những nghi thức lễ bái hoặc cúng kiếng nào, cũng không cần đọc tụng kinh và dâng cúng thần linh để dọn đường lên cảnh trời. Một lòng trung thành với chồng và lúc nào cũng tuân hành lời sai khiến của chồng là cái chìa khóa mở cổng vào hạnh phúc thiên đàng [1]. Theo quy luật Manu hàng phụ nữ không được quyền học kinh Vedas (Phệ Ðà). Ðó là lý do tại sao trong nghi thức lễ bái dành cho người nữ không có phần đọc chú Veda. Quan kiến về nữ giới như vậy là một sĩ nhục cho người phụ nữ Ấn Ðộ.

Lòng trung thành của người vợ không phải chỉ được bày tỏ trong khi chồng còn sống mà còn tiếp tục cho đến khi hỏa táng ông chồng. Một người vợ Ấn Ðộ được trông đợi phải theo chồng sang thế giới bên kia bằng cách tự quyên sinh, nhảy vào ngọn lửa bừng cháy của giàn hỏa đang thiêu chồng. Mặc dầu các tập tục man rợ ấy đã được hoàn toàn bãi bỏ và chấm dứt và không còn được duy trì để bôi xấu gương mặt tươi đẹp của nền văn hóa Ấn Ðộ, tuy nhiên thói quen ấy đã được lan rộng trong xã hội Ấn Ðộ cổ xưa, và ngày nay thỉnh thoảng vẫn còn sống dậy trong xứ Ấn Ðộ tân tiến, cho thấy rõ vị trí thấp hèn của người phụ nữ trong xã hội Ấn vào những ngày xa xưa và có thể còn được ứng dụng đến một mức độ nào. Xã hội thời bấy giờ tin rằng sinh con gái là một điều bất hạnh — còn hơn vậy nữa — là một đại họa. Không phải chỉ người dân thường mà chí đến hàng vua chúa cũng không tránh khỏi bị quan kiến hẹp hòi và lầm lạc ấy gây nhiễm độc. Chuyện thuật rằng một ngày nọ Vua xứ Kosala (Câu Tát La) đến hầu Phật như thông thường vua vẫn đến và đàm đạo với Ngài. Vào lúc ấy có tin báo là Hoàng Hậu Mallika hạ sanh con gái. Nghe tin này vua ngẩn ngơ khó chịu, sắc mặt trở nên ủ dột âu lo và phiền muộn. Nhìn thấy vậy đấng Toàn Giác mở lời khuyên:

“Không nên băn khoăn, tâu Ðại Vương,

Một bé gái có thể

Còn tốt hơn con trai,

Vì lớn lên em có thể thông minh và đức hạnh,

Là một người vợ hiền, mẹ chồng em sẽ yêu quý.

Rồi đứa con trai mà em sẽ sanh ra

Có thể làm nên đại sự

Trị vì một lãnh thổ rộng lớn, đúng vậy, con trai

Của bà vợ cao quý trở thành người lãnh đạo quốc gia.” [2]

Trong Phật Giáo, sự khác biệt giữa nam và nữ không phải là một trở ngại để thành tựu mức độ toàn hảo cao thượng nhất. Ðề cập đến Bát Chánh Ðạo mà Ngài ví như một cổ xe, Ðức Phật dạy:

“Dầu là người nữ, dầu là người nam

Cổ xe cũng vẫn chờ đợi, cùng một chiếc xe ấy

Sẽ đưa vào tận Niết Bàn.” [3]

Thấu hiểu lòng thù nghịch hiểm độc và thái độ ác cảm đối với hàng phụ nữ trong các hệ thống tôn giáo và xã hội của thời Ngài, Ðức Phật phát huy một cuộc cách mạng trong tư tưởng và trong lối cảm xúc của đại chúng bằng cách công khai và can đảm tuyên bố rằng người nữ không có gì là thấp kém hơn người nam, và trên con đường đức hạnh toàn hảo và trí tuệ thâm sâu dẫn đến Niết Bàn, vừa khó khăn vừa khổ nhọc, nam và nữ vẫn ngang nhau. Bên trong mỗi người nữ, cũng như bên trong mỗi người nam, đều có tiềm ẩn khả năng để trở thành A La Hán, tiềm lực để trở nên bậc thánh nhân.

Tuyên ngôn này của Ðức Phật, cũng như sự phủ nhận hệ thống giai cấp của Ngài, đã gây nên một biến động lớn lao trong giới tôn giáo thời bấy giờ vì đó là trực tiếp đương đầu với niềm tin đã ăn sâu vững chắc trong dân gian. Tuy nhiên, những thành trì chánh thống ấy sớm sụp đổ trước giáo lý vẻ vang của Ðức Phật.

Ðức Phật chỉ rằng người đàn bà là mẹ của đàn ông. Không ai xứng đáng cho ta kỉnh mộ tôn sùng bằng mẹ của mình, và phận làm con không thể trả hết món nợ của mẹ mà mình phải mang trong lòng. Như thế Ngài nâng cao vị trí của hàng phụ nữ.

Trong kinh sách Phật Giáo, đôi khi vì lòng sùng kính và tôn trọng, hàng phụ nữ được nhắc đến dưới danh nghĩa là xã hội các bà mẹ (màtugàma). Về sau, người hiểu biết ở Ấn nghe theo lời khuyên dạy của Ðức Phật về giá trị của bà mẹ, tuyên ngôn rằng: “Bà mẹ và lãnh vực của mẹ phải được tôn trọng hơn là cảnh trời. [4]” Ðức Phật cũng ghi sâu vào tâm não của dân chúng thời bấy giờ nhu cầu phải kính nể và tôn trọng nữ phái. Ngài dạy người nam nên xem người nữ như chị, như em gái và hết lòng bảo vệ họ, nên đối xử hiền hòa, dịu dàng với vợ, xem vợ là ngang hàng với mình, và cho con gái những cơ hội thăng tiến giống như con trai. Hơn nữa, trong kinh Sigàlovàda Sutta, toát yếu đạo lý cho người cư sĩ, Ðức Phật ban hành đường lối chỉ đạo về bổn phận người làm chồng nên: lễ độ, luôn luôn nhã nhặn thanh tao với vợ; không tỏ ý khinh thường; trung thành với vợ, trao quyền hành trong nhà, và mua sắm nữ trang cho vợ.

Cũng trong bài kinh ấy Ðức Phật khuyên dạy bổn phận người làm vợ nên đối xử với chồng thế nào. Phải bày tỏ lòng thương kính chồng bằng năm cách: làm tròn phận sự của mình; ân cần đón tiếp thân bằng quyến thuộc bên chồng; trung thành với chồng; cẩn thận giữ gìn tiền bạc của cải mà chồng đem về; luôn luôn siêng năng, không bao giờ tháo trúc công việc.

Vài người chỉ trích vội vã đi đến kết luận rằng Ðức Phật không biết và không quan tâm thích nghi đến bổn phận và lý tưởng của hàng phụ nữ cư sĩ. Những vị ấy chỉ cần đọc các bài thuyết giảng của Ðức Phật, nhất là những bài trong bộ Anguttara Nikàya (Tăng Nhứt A Hàm) [5] và Samyutta Nikàya (Tạp A Hàm) [6] để nhận định đến mức nào đấng Toàn Giác đã chú trọng đến tình trạng an lành của “xã hội các bà mẹ.” Theo Ðức Phật, tất cả mọi tiến bộ và mọi thành tựu, tại thế cũng như siêu thế, đều nằm trong tầm khả năng của người phụ nữ cư sĩ sống với nếp sống trong gia đình và theo những khuynh hướng đạo đức của người tại gia, miễn là người ấy thực hành đúng theo lời dạy của Ðức Phật.

Những phẩm hạnh đem lại tình trạng an lành cho người phụ nữ trong cả hai, thế gian này và cảnh giới về sau, đã được Ðức Phật ban hành như sau:

1) Tâm đạo nhiệt thành,

2) Biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi,

3) Không dể duôi buông xuôi theo chiều hướng độc hiểm, thù oán và sân hận,

4) Không ganh tỵ,

5) Không keo kiết bỏn xẻn mà quảng đại rộng rãi,

6) Ðức hạnh trong sạch,

7) Sống cuộc đời đạo đức và thích hợp với thuần phong mỹ tục,

8) Trau giồi học vấn và kiến thức thâm sâu,

9) Hăng say và nhiệt thành,

10) Cảnh giác và lanh trí,

11) Sáng suốt và khôn ngoan. [7]

Một thiếu phụ mà có những phẩm hạnh như trên đã vững chắc tiến bước trên con đường an lành và hạnh phúc. Như nhà viết kịch vĩ đại người hy lạp, Euripides, đã lưu ý: “Không có gì tệ hại hơn là một người đàn bà xấu và không có gì cao cả hơn một người đàn bà tốt.” Cũng vì Ðức Phật tin chắc vào khả năng của người phụ nữ để tiến đạt đến mức tiến bộ tuyệt đỉnh mà con người có thể thành đạt nên Ngài chấp nhận thỉnh nguyện khẩn cấp của bà di mẫu Pajàpati Gotami và thành lập Giáo Hội Tỳ Khưu Ni. Làm điều này Ðức Phật là người đầu tiên trong lịch sử tôn giáo nhân loại đã nâng cao vị trí của hàng phụ nữ đến mức quan trọng nhất. Ðây là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong rất nhiều hệ thống tôn giáo và trường phái tư tưởng được biết, trước và trong thời Ðức Phật. Ðây là một sự canh tân bất ngờ đã làm cho những nhà lãnh đạo xã hội và tôn giáo thời bấy giờ hoàn toàn kinh ngạc. Ðây là một canh tân mới lạ phi thường vì nó chấp nhận cho hàng phụ nữ đặc quyền tiếp thụ một bản chất cao quý, một sức mạnh kiên cố vững chắc trong nền đạo lý, một khả năng thấm nhuần trí tuệ thâm sâu ngang hàng với nam giới.

Cũng nên ghi nhận thêm rằng Ðức Phật cho phép thành lập Giáo Hội chư Tỳ Khưu Ni vào thời điểm và địa điểm mà người phụ nữ được xếp vào hạng rất thấp kém, khiêm tốn và có một địa vị nhục nhã trong xã hội. Và ta cũng có thể nói thêm rằng, mặc dầu 2,500 năm đã trôi qua từ thời Ðức Phật và mặc dầu nhiều hệ thống tôn giáo khác đã phát triển dồi dào thịnh vượng tại Ấn Ðộ, chí đến ngày nay không có tôn giáo nào thành lập một giáo hội cho hàng nữ tu sĩ. Không thể còn nhiều nghi ngờ nữa, rằng hàng phụ nữ trên thế giới vẫn chịu một món nợ trường cửu đối với Ðức Phật vì Ngài đã nâng cao họ lên hàng danh dự này. Sau khi Giáo Hội Tỳ Khưu Ni được thành lập, một số đông phụ nữ từ mọi từng lớp của đời sống gia nhập vào Giáo Hội và những hành động của các bà đã tô điểm vẻ vang những trang văn học Phật Giáo. Ðời sống của một số khá đông những vị tỳ khưu ni thánh thiện ấy, công trình kiên trì nỗ lực của các bà để thành đạt mục tiêu giải thoát và những khúc ca khải hoàn sau khi thành tựu mục tiêu, đã được mô tả một cách sống động trong Therigàthà (Psalms of the Sisters, Trưởng Lão Ni Kệ, những thánh thi của chư tỳ khưu ni).

Trong tích chuyện bà Pajàpati Gotami, được đề cập đến trong kinh sách, có tường trình việc thành lập Giáo Hội Tỳ Khưu Ni với đầy đủ chi tiết. Văn học Phật Giáo chứa đựng dồi dào những gương lành của người phụ nữ đã viên mãn nhiều thành tựu khác thường.

Bộ Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, kể lại rất tận tường tiểu sử các bà Phật tử, tỳ khưu ni và cư sĩ tín nữ, không những đã thực hành tốt đẹp Giáo Pháp mà còn là giảng sư dạy Giáo Lý. Vị Tỳ Khưu Ni Kunđalakesà [8] là một trong các bà. Tích chuyện Tỳ Khưu Ni Somà đã nói lên bằng những danh từ không thể lầm lẫn rằng nữ tính không phải là trở ngại cho tiến bộ.

Tin tưởng lầm lạc thông thường ở Ấn Ðộ là cho rằng về phương diện tinh thần và đạo đức người phụ nữ thấp kém hơn người nam, được Tỳ Khưu Ni Somà [9] bác bỏ và giải rõ như sau: “Làm thế nào bản chất của người đàn bà được xem là thấp kém khi mà, với tâm an trụ, với tri kiến sáng tỏ và thanh tịnh đầy trí tuệ sâu sắc, người phụ nữ có thể vén lên bức màn vô minh đang bao trùm mình, thông suốt Giáo Pháp và nhận thấy đời sống đúng theo thực tướng của nó?”

Sự kiện Ðức Phật thông hiểu tiềm năng sâu ẩn và khả năng hoàn mãn những thành tựu vĩ đại và cao thâm của hàng phụ nữ không làm cho Ngài mù quáng không thấy những khuyết điểm và yếu mềm cố hữu trong tâm tánh người nữ, và đó là điểm đặc thù của phái này. Ngài có thể khuyến cáo cả hai, người nam và người nữ, nên cảnh giác lưu tâm đến các thiếu sót và suy kém ấy.

Ðề cập đến nữ phái, Ðức Phật nói: “Khuynh hướng không cương nghị và bẩm tánh kém đạo đức là tai hại lớn lao của nữ giới,” [10] nhưng điều này không có nghĩa là bắt buộc họ phải chịu số phận như vậy. Ðiều này chỉ có nghĩa là người nữ cần phải hết sức thận trọng và tận lực gia công chiến đấu để vượt đến mức độ cao trổi hơn trong đời sống.

Dầu sao, Ðức Phật vạch rõ những yếu kém và khuyết điểm của hàng phụ nữ, không phải để chế nhạo và chê cười là thua sút, mà Ngài nhắm đến mục tiêu cao quý là giúp họ nhận định những khó khăn gây trở ngại cho những nỗ lực thành tựu mục tiêu của mình và khuyến khích họ thận trọng canh phòng các cuộc tấn công của những khát vọng và các cuộc đột kích của những cám dỗ.

Có lời dạy rằng những thích thú của năm giác quan — sắc, thinh, hương, vị, xúc, vốn làm say mê và cám dỗ người nam — đều tập trung và kết tinh trong hình dáng người đàn bà [11]. Với năng lực làm say đắm mê hồn ấy người đàn bà có thể nô lệ hoá và đặt người đàn ông dưới quyền thống trị của mình.

Người ta thường nói rằng người phụ nữ cám dỗ và lôi cuốn con người dể duôi buông lung bằng những cái liếc mắt, những nụ cười duyên, những dáng điệu yêu đương, bằng cách thân mến chăm nom chãi chuốt (dunni-vatthena) và bằng những lời quyến rũ dịu dàng dễ mến. [12]

Bộ kinh Angutara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, mở đầu như sau:

“Này chư tỳ khưu, Như Lai không biết một hình thể nào khác chiếm đoạt quả tim người đàn ông như bóng dáng của người đàn bà. Này chư tỳ khưu, hình dáng của người phụ nữ làm cho tâm trí người nam đắm đuối say mê.

“Như Lai không biết một âm thanh …

Như Lai không biết một hương thơm …

Như Lai không biết một mùi vị …

Như Lai không biết một sự đụng chạm nào …

mà có thể làm đắm đuối say mê và giam cầm quả tim người nam như âm thanh, hương thơm, mùi vị và sự đụng chạm một người đàn bà. Tiếng nói, hương thơm, mùi vị và sự đụng chạm với người phụ nữ chiếm đầy tâm trí người nam.

“Này chư tỳ khưu, Như Lai không biết sắc, thinh, hương, vị, xúc nào khác mà làm cho quả tim người đàn bà hoàn toàn đắm đuối say mê trước những quyến rũ và cảm xúc ấy.”

Nơi đây có một thời pháp về sự thân cận nam nữ và năng lực không thể cưỡng của nó được diễn đạt trong một ngôn ngữ giản dị và không thể nhầm lẫn, chân lý mà không người biết lẽ phải nào có thể dám phủ nhận. Sự gần gủi giữa nam và nữ được Ðức Phật xem là dục vọng hùng mạnh nhất, là bản năng có sức mạnh hùng hậu nhất của con người. Nếu ta để cho tình dục lôi cuốn, trở thành người bị trói buộc, người nô lệ của những dục vọng, người hoàn toàn tự hảm mình trong cạm bẩy, tự hiến mình vào nanh vuốt của mê hoặc — thì con người dũng mãnh nhất cũng trở thành như loài sâu bọ thế cô; một người thánh thiện sáng suốt cũng hành động như điên cuồng khờ dại; chí đến một hành giả đã thành đạt những từng thiền (jhàna) cao cũng có thể rơi xuống thâm sâu trong những khổ cảnh trần gian.

“Không có lửa nào như tham ái.

Khát vọng không tàn lụi, nó bừng cháy.” [13]

Ðó là lời của Ðức Phật về những cảm xúc của tình dục. Nhưng ta phải nhớ rằng Ðức Phật không khinh rẻ, không có ý làm tổn hại danh dự, suy giảm giá trị của nữ giới. Ngài chỉ nêu lên tâm tánh yếu mềm và tình trạng mỏng manh của người nữ và muốn cho họ cảnh giác đề phòng. Ðàng khác Ngài thấm nhuần và in sâu vào lòng họ bài học tự mình uốn nắn tâm tánh và sửa đổi tác phong để thành một nguồn an ủi và sức mạnh của nhân loại.

Nói về người phụ nữ, Ðức Phật vắn tắt phê bình: “Tác phong dể duôi hay kém đạo đức là ô nhiễm của người phụ nữ. [14]” Nhưng một lần nữa Ðức Thế Tôn khẳng định rõ ràng, “Người tốt nhất trong những bà vợ hiền là người làm vui lòng chồng, [15]” và ở một nơi khác Ngài ghi nhận, “Vợ là người bạn hiền tốt nhất. [16]” Goldsmith chỉ vang âm những lời của Ðức Phật khi ông viết:

“Một bà vợ toàn hảo giúp đỡ trong đời sống còn nhiều hơn người luôn luôn khoát chiếc áo triết gia, vổ ngực tự xưng anh hùng, hay những công nương gắt gỏng. Người làm cho chồng con hạnh phúc là một nhân vật vĩ đại hơn các thiếu nữ trong những câu chuyện tiểu thuyết mà trọn đời chỉ giết chóc nhân loại bằng những làn tên được phóng ra từ ống tên khoé mắt.”

Một cách vắn tắt, đó là vị trí của nữ giới trong Phật Giáo. Người phụ nữ xứng đáng có một chỗ đứng danh dự ngang hàng với nam giới, về phương diện khả năng và thành đạt mục tiêu Niết Bàn, và trên nấc thang thành tựu của nhân loại, có khả năng trèo đến mức tột đỉnh mà người nam có thể đến.

Trong mọi lãnh vực nỗ lực của nhân loại, người nam không có gì hơn người nữ, nhưng cùng lúc Ðức Phật nhìn nhận những khuyết điểm dính liền theo nữ tính, khuynh hướng nhẹ dạ và thiên tánh yếu mềm của người phụ nữ dễ dàng rơi vào đường tội lỗi, dễ bị khuyến dụ đi trên con đường kém đạo đức, và vốn là một vị thầy luân lý vĩ đại — là vị thầy vĩ đại nhất trong lịch sử loài người — Ngài gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, chỉ vạch những dấu hiệu hiểm nguy trên con đường tiến bộ của các bà.

Mối lo âu chánh của Ðức Phật là phục hưng tinh thần đạo đức và luân lý cho tất cả mọi người, nam và nữ; là giải thoát họ ra khỏi những trói buộc vô cùng tận của vòng luân hồi và đưa họ đến hạnh phúc trường cửu của Niết Bàn. Ðã như vậy, Ngài không mấy bận tâm đến những vấn đề của thế gian như cải cách xã hội và tiến bộ chánh trị. Ngài để những công việc ấy lại cho những ai có thẩm quyền — những nhà cai trị dân, vua chúa, người có quyền thế, những người có nhiệm vụ gánh vác công chuyện quốc gia. Suốt đời Ngài không bao giờ xen vào những tổ chức của chánh quyền; Ngài không bao giờ nhúng tay vào những vấn đề chánh trị nhưng dầu sao, không thể phủ nhận và luận bàn, rằng trong khi tuyên ngôn bức thông điệp vĩnh cửu về sự giải thoát nhân loại, cùng lúc ấy, vì lý do cao cả của giáo huấn tuyệt luân, Ngài đã đem lại tiến bộ xã hội đáng ghi nhớ và sự giác ngộ chánh trị cho toàn thể nhân loại, duy nhất trong lịch sử thế giới. Những chuyện tích thuật lại dưới đây cho thấy rằng giáo huấn tuyệt vời của Ðức Phật đã có một ảnh hưởng thấm nhuần sâu xa vào đời sống của hàng phụ nữ trong thời Ngài. [17]

Hầu hết tất cả những tích chuyện này đều được phiên dịch từ kinh điển và các Bản Chú Giải Pali. Những câu kệ được viết lại theo văn xuôi để có thể rất trung thực, dễ thực hiện và dễ đọc.

-ooOoo-

Thành Lập Giáo Hội Tỳ Khưu Ni

Người Phụ nữ Vĩ Ðại Nhất – Mahà Pajàpati Gotami

Cuộc đời và tiểu sử Bà Mahà Pajàpati Gotami, sự xuất gia của bà và sau đó sự thành lập Giáo Hội Tỳ Khưu Ni (Bhikkhuni) là một trong những mẫu chuyện sáng chói và hấp dẫn nhất trong văn học Phật Giáo. Nó biểu lộ cùng lúc trí tuệ thấy xa và lòng nhân đạo của Ðức Phật Ðại Từ Ðại Bi. Hơn nữa nó cho thấy đến mức nào năng lực hùng mạnh của sự quyết tâm bất khuất và bất thối chuyển và lòng quả cảm của một thiếu phụ có thể gieo ảnh hưởng đến xã hội đương thời. Nó cũng cho thấy như thế nào một sự can thiệp làm trung gian để thỉnh cầu đầy lòng từ ái, có thể giúp làm mềm dịu lập trường cứng rắn nhất và dẫn đến tình trạng thân hữu và mềm dẽo hơn.

Trên hết, đây là một giai đoạn đầy hiểm họa có những thành quả sâu xa nhất trong lịch sử giải thoát hàng phụ nữ. Hai ngàn năm trăm năm sau thời Ðức Phật, cuộc vận động để giải phóng nữ giới vẫn còn được mạnh mẽ tiếp diễn khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, hơn hai mươi lăm thế kỷ về trước Ðức Phật đặc ân công nhận và cho phép hàng phụ nữ được xuất gia và gia nhập vào giáo hội, mặc dầu không khỏi phần nào do dự. Người trực tiếp đảm đang trách nhiệm đưa vượt qua khúc quanh lịch sử, giải phóng nữ giới, không ai khác hơn là Bà Mahà Pajàpati Gotami vĩ đại. Giữa nhóm các mạng phụ phu nhân đã có ảnh hưởng trên bước đường giải phóng nữ giới, bà trổi lên là vị nữ anh hùng nổi bật. Bà đứng hàng đầu các bà tín nữ của Ðức Phật. Ðức Phật chỉ định cho bà địa vị quan trọng nhất về tuổi tác cũng như về kinh nghiệm. Nhưng nếu không có lòng dũng cảm kiên trì và bất khuất của bà trước những bất trắc chồng chất, giới Phật tử không bao giờ biết có Giáo Hội Tỳ Khưu Ni. Bà sanh trưởng tại thị trấn Devadaha của xứ Ấn Ðộ cổ xưa, trong gia đình Suppabuddha. Bà là em của Hoàng Hậu Mahà Màyà, mẹ Thái Tử Siddhattha. Tên tộc bà là Gotami. Người ta gọi bà là Mahà Pajàpati Gotami bởi vì các nhà tiên tri đoán rằng về sau bà sẽ trở nên vị lãnh đạo của một nhóm người rộng lớn. “Mahà” có nghĩa lớn. “Pati” là người dẫn đầu và “Pajà” là một nhóm đông người có tổ chức. Vua Suddhodna, trị vì dân tộc Sakyan tại Kapilavattu, cưới luôn cả hai bà, Mahà Màyà và em là Gotami. Theo quan niệm xã hội của người thời bấy giờ, một cuộc hôn nhân như thế ấy không có chi là lạ và vẫn thích hợp với tập tục đương thời.

Bà Gotami sanh một gái tên Sundari Nandà và một trai tên Nanda. Về sau cả hai đều gia nhập vào Giáo Hội. Hoàng Hậu Mahà Màyà băng hà sau khi hạ sanh Hoàng Tử Siddhattha được bảy ngày. Trong một cử chỉ cao cả, hy sinh tình mẫu tử, bà Gotami giao con lại cho người khác nuôi dưỡng và lãnh lấy trọng trách thiêng liêng dưỡng dục và chăm sóc con của chị mình.

Dưỡng nuôi và chăm sóc vị Phật tương lai, bà không những được toàn thể Phật tử trên thế gian tri ân mà cũng đặt Thái Tử Siddhattha vào vị trí phải mang trọng ân đối với bà.

Lòng biết ơn không phải là phẩm hạnh chung của người tầm thường, nam cũng như nữ. Tuy nhiên, đó là dấu hiệu nổi bật của chư Phật. Ðó là một trong những đức hạnh chánh yếu và đặc thù của chư Phật. Cũng chính lòng tri ân này, trong số những lý do khác, đã thúc giục Ðức Phật cuối cùng tán thành lời thỉnh cầu khẩn thiết và bền dai của Bà Gotami và chấp nhận bà vào Giáo Hội Thánh Thiện của chư Tỳ Khưu Ni.

Khi Vua Suddhodana băng hà Bà Gotami, lúc ấy đã không còn chị, không còn chồng và con (con bà đã gia nhập vào Giáo Hội Tăng Già), quyết định từ bỏ thế gian và những gì rực rỡ sáng chói của kiếp nhân sinh phàm tục và trở về nương tựa trong cuộc sống không nhà cửa. Bà xin được xuất gia, nhưng Ðức Phật không chấp thuận.

Ngày kia Ðức Phật đến thành Kapilavattu để giảng hòa một cuộc tranh chấp dữ dội giữa hai dân tộc, Sakyan và Koliyan, đang dành quyền xử dụng nước của dòng sông Rohini. Sau khi cuộc cãi vã cay đắng đã được dàn xếp ổn thỏa và hai bên dịu giọng, như thường lệ, Ðức Thế Tôn mở lời thuyết giảng Giáo Pháp, và sau khi lắng nghe thời Pháp một số đông người trai trẻ Sakyan xin gia nhập vào Giáo Hội chư Tỳ Khưu. Các bà vợ của những vị ấy, do Mahà Pajàpati Gotami hướng dẫn, đến xin xuất gia với Ðức Bổn Sư. Các bà khẩn khoản van xin như sau: “Bạch Ðức Thế Tôn, thật là một đại hạnh cho nữ giới nếu hàng phụ nữ chúng con được chấp nhận gia nhập vào Giáo Hội Tỳ Khưu Ni để khép mình trong khuôn khổ của Giáo Pháp và Giới Luật mà Ngài công bố.”

Tuy nhiên, Ðức Phật không sẵn sàng khích lệ thỉnh nguyện của Bà Gotami và trả lời, “Ðủ rồi, này Bà Gotami, Như Lai không thể làm vừa lòng Bà và chấp nhận như vậy.” Lần thứ nhì, rồi lần thứ ba Bà Gotami lặp lại lời thỉnh cầu, nhưng mỗi lần đều bị từ chối. Sau đó Ðức Thế Tôn lần hồi sang thành Vesali và ngự trong một đền thờ trên đỉnh núi. Bà Gotami vẫn không nao núng, không ngã lòng vì những đợt thỉnh nguyện bất thành, mà bền gan cam chịu mọi khổ nhọc và đương đầu với nghịch cảnh, quyết định theo chân Ðức Thế Tôn đến Vesali cùng với một số mạng phụ phu nhân có niềm tin nơi bà. Nơi đây ta mục kích sự biểu dương tinh thần dũng cảm bất khuất của bà, đáng gợi lòng ngưỡng mộ và tôn kính của mọi người.

Cắt lìa những chùm tóc đẹp đẽ một thời nào, vứt bỏ những đồ trang điểm giàu sang tráng lệ, và khoác lên mình tắm y vàng thô thiển, các bà cam chịu khổ nhọc đi bộ, trải qua đoạn đường dài 150 dặm đến Vesali. Vốn chưa từng quen thuộc với những thử thách quá cam go dường thế ấy trong quá khứ, các bà chiến đấu và vất vả khổ nhọc trăm bề trên cuộc hành trình. Dài theo đường, nhiều người thấy vậy rất cảm kích, sẵn lòng hào hiệp nhường chỗ trên xe, nhưng các bà lễ độ khước từ và tiếp tục nhọc nhằn lê bước. Cảnh tượng quả thật não nề và rất đáng thương tâm. Cuối cùng các bà đến Vesali, suy yếu và kiệt quệ, đứng trước cổng chùa, mình mẩy lắm lem cát bụi — y phục nhăn nhó tả tơi, chân cẳng sưng vù đau nhức.

Ðại Ðức Ànanda, vị thị giả trung thành và rất tận tụy, người hầu cận thân tín và cần mẫn siêng năng của Ðức Phật, thấy cảnh tượng khổ đau như vậy, động lòng trắc ẩn, đến gần Ðức Bổn Sư và bạch như sau: “Kính Bạch Ðức Thế Tôn, Bà Gotami cùng với đoàn tùy tùng đang đứng phía trước điện, vẻ mặt hốc hác mệt nhọc, sức lực kiệt quệ. Các bà ấy phải đi đường xa tìm đến gặp Ðức Thế Tôn để khẩn khoản thỉnh nguyện. Kính bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài từ bi cho phép nữ giới được xuất gia tỳ khưu ni, trong khuôn khổ của Giáo Pháp và Giới Luật mà Ðức Thế Tôn đã công bố. Ðây sẽ là một đại hạnh, bạch hóa Ðức Thế Tôn, nếu Ngài cho phép hàng phụ nữ được gia nhập vào Giáo Hội.” Ba lần Ðại Ðức Ànanda cố nài xin, nhưng Ðức Phật một mực chối từ.

Tuy nhiên, Ðại Ðức Ànanda không nãn lòng. Khi một người thành thật và kiên trì cầu khẩn cho người khác và tập trung cố gắng nhằm làm mềm dịu một thái độ cứng rắn thì không có lý do gì để từ bỏ triển vọng. Lúc bấy giờ Ðại Ðức Ànanda áp dụng đường lối khác, kính cẩn bạch đấng Toàn Giác như sau: “Bạch hoá Ðức Thế Tôn, người phụ nữ có chăng khả năng thành đạt những mức sống cao thượng trong đời sống tinh thần — bốn tầng thánh [18]– một khi họ từ bỏ cuộc sống tại gia, tiến đến đời sống không nhà cửa, tự khép mình vào khuôn khổ của Giáo Pháp và Giới Luật của Ðức Thế Tôn?” “Có, này Ànanda, họ có đủ khả năng làm được vậy, [19]” Ðức Phật trả lời.

Tiến được một bước vững chắc trong chiều hướng thuận lợi, được khích lệ, Ðại Ðức Ànanda thiết tha khẩn bạch, “Bạch hoá Ðức Thế Tôn, nếu hàng phụ nữ có đủ khả năng đạt thành thánh quả, như vậy Bà Mahà Pajàpati Gotami mà trước kia đã nuôi Ðức Thế Tôn bằng sữa của bà, đã bồng bế Ngài trong lòng sau khi hoàng hậu thăng hà và sau đó dưỡng nuôi chăm sóc Ngài cho đến lúc trưởng thành, vậy, bạch Ðức Thế Tôn, hàng phụ nữ có thể được phép gia nhập vào nếp sống không nhà cửa, trong khuôn khổ của Giáo Pháp và Giới Luật mà Ðức Thế Tôn đã công bố.” Ðến đây Ðại Ðức Ànanda đã chạm đến một điểm rất tế nhị. Ðại Ðức đã đề cập đến vấn đề biết ơn, và biết ơn là một đức tính được chư Phật hết lời tán dưong và thâm sâu thấm nhuần. Trước lời khẩn cầu nồng nhiệt của Ðại Ðức Ànanda, Ðức Phật không thể làm gì hơn là thuận lòng.

Tuy nhiên, với trí tuệ nhìn xa và hiểu rộng, Ðức Thế Tôn có thể thấy những hiểm họa và những khuyết điểm không thể tránh trong việc điều hành song song hai Giáo Hội Tăng Già cùng một lúc. Do đó Ngài ban hành một vài điều kiện và quy định vài giới luật cho Giáo Hội chư Tỳ Khưu Ni nhằm giữ gìn và bảo vệ tương lai cho cả hai Giáo Hội. Những điều kiện được ban hành là:

  1. Một vị tỳ khưu ni, dầu có trăm tuổi hạ do sự thọ trì cụ túc giới (upasampadà) phải chào hỏi một vị tỳ khưu, đứng dậy trước mặt vị tỳ khưu, đảnh lễ và thực hành tất cả những bổn phận thích nghi đối với vị tỳ khưu, mặc dầu vị này mới thọ cụ túc giới trong ngày hôm nay.
  2. Một vị tỳ khưu ni không thể nhập hạ (vassa) ở một nơi mà không có tỳ khưu.
  3. Vào mỗi ngày sám hối (một tháng hai lần), vị tỳ khưu ni phải hỏi Giáo Hội chư Tỳ Khưu ngày giờ nào một vị tỳ khưu đến hành lễ phát lồ (uposatha). [20]
  4. Khi mãn thời gian an cư kiết hạ mỗi vị tỳ khưu ni phải thọ lễ tự tứ (pavàrana) [21] trước cả hai Giáo Hội, tỳ khưu và tỳ khưu ni (để kiểm thảo xem trong ba điểm: thấy, nghe và hoài nghi, mình có làm điều chi lỗi lầm không)
  5. Một vị tỳ khưu ni đã phạm một trọng tội phải chịu hình phạt manatta [22] trước cả hai Giáo Hội, Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni.
  6. Một nữ giới tử (sikkhamànà, trong thời gian học tập) đã có tu tập sáu giới trong thời gian hai năm, có thể thọ trì cụ túc giới với cả hai Giáo Hội, Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni.
  7. Bất cứ trong trường hợp nào một vị tỳ khưu ni không quyền khiển trách hay nặng lời một vị tỳ khưu.
  8. Kể từ hôm nay tỳ khưu ni không được phép làm lễ sám hối cho tỳ khưu nhưng tỳ khưu thì có thể hành lễ sám hối cho tỳ khưu ni.

Những giới luật và điều kiện trên đây phải được tôn trọng, khâm sùng, kính cẩn tuân hành, và nghiêm túc thọ trì suốt đời, không được vi phạm dầu bất cứ trường hợp nào.

Giờ đây Ðại Ðức Ànanda đã học nằm lòng với Ðức Thế Tôn tám giới chủ yếu ấy, đến gặp Bà Mahà Pajàpati Gotami và trao truyền lại bà. Bà Gotami hoan hỷ lãnh giáo, chấp thuận nghiêm trì tám giới chủ yếu ấy và nguyện trọn đời không vi phạm [23]. Sau đó Bà Gotami xuất gia. Bà đến trước Ðức Phật và đảnh lễ. Ðức Bổn Sư thuyết giảng cho bà một thời Pháp và ban truyền cho bà một đề mục hành thiền. Bà Gotami, vị đệ tử có tâm đạo nhiệt thành, thực hành đúng theo lời giáo huấn, hành thiền, khai triển tuệ minh sát (vipassanà) và chứng đắc Ðạo Quả A La Hán cùng với bốn patisambhidà [24], tri kiến phân tách. Về sau các vị đệ tử của bà cũng đắc Quả A La Hán khi Ngài Trưởng Lão Nandaka [25] chấm dứt một thời Pháp giảng cho các bà. Trong khi cư ngụ tại Vesali, Bà Gotami nhận biết rằng cuộc đời của bà sắp kết liễu, đến đảnh lễ từ giả Ðức Phật và viên tịch — lúc ấy bà được một trăm hai mươi tuổi thọ.

Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo một Giáo Hội Nữ Tu Sĩ được thành lập và nữ giới được chấp nhận vào đời sống tu viện. Cánh cửa đã rộng mở để cho hàng phụ nữ xuất gia, đặc ân cho phái nữ gia nhập vào một Giáo Hội Nữ Tu Sĩ đã được ban hành. Giáo Hội Tỳ Khưu Ni sớm được thành lập, tốt đẹp và vững chắc. Nhiều bà ở lứa tuổi lớn khôn, các bà khác giữa độ thanh xuân và những bà khác nữa tuổi hạc đã cao đến mức hoàng hôn của cuộc sống, tất cả đều gia nhập vào Giáo Hội Tỳ Khưu Ni. Họ đến thật đông — hạng người giàu sang sung túc và những người nghèo khổ bần cùng, người dốt nát và người có trình độ văn hóa sâu rộng, người chất phác thật thà và người nhiều học thức — họ đến từ các nẻo đường của đời sống và xin gia nhập vào Giáo Hội Thánh Thiện của chư vị Tỳ Khưu Ni. Giáo Hội tồn tại trong nhiều trăm năm. Những vị tỳ khưu ni này, sau khi đã gia nhập vào Giáo Hội và thành đạt giải thoát cuối cùng, bắt đầu thốt ra những lời tán dương và những khúc ca khải hoàn hay thánh thi, như người ta gọi, được góp nhặt trong một quyển sách có tên là Therìgàthà (những bài Thánh Thi của các Trưởng Lão Ni, hay Trưởng Lão Ni Kệ). Những bài thánh thi này nói lên mức độ phỉ lạc mà các bà đã kinh nghiệm trong khi xuất gia và sau đó khi thành đạt thánh quả.

Câu hỏi đôi khi được nêu lên là Ðức Phật có đặt Ni Bộ dưới quyền của Tăng Bộ chăng. Câu hỏi thật sự không cần được nêu lên, bởi vì Ðức Phật khai sáng hai giáo hội riêng biệt tách rời và sinh hoạt song song, và không có ý định làm cho giáo hội nào sẽ kiểm soát giáo hội nào. Giáo Hội chư Tỳ Khưu có những vị tăng trưởng, hai vị đại đệ tử ấy là nhị vị Trưởng Lão A La Hán, Sàriputta và Mahà Moggallàna. Cùng thế ấy, bên Ni Bộ cũng có hai vị Ni Trưởng, tức hai vị A La Hán Khemà và Uppalavannà. Sự kiện Ðức Phật không bao giờ có ý định đặt Giáo Hội Tăng Già, tăng bộ hay ni bộ, dưới quyền kiểm soát của một người hay một nhóm người, được lời dạy của Ngài trong kinh Ðại Niết Bàn, Mahàparinibbàna Sutta, cho thấy tỏ rõ. Nơi đây Ngài tuyên bố không bao giờ có ý rằng Ngài, là vị Phật, phải kiểm soát Tăng Già (Sangha). Theo Ðức Phật, Tăng già không bao giờ có nghĩa là một cơ cấu được hàng ngủ hóa, được tổ chức thành đoàn, phải sùng bái và trung thành phục tùng một vị giáo chủ duy nhất. Nhưng đây phải là một tập đoàn của những người nam và những người nữ tự do, nhiệt thành dấn thân vào nhiệm vụ cao cả là thành đạt Niết Bàn, giải thoát cuối cùng cái tâm. Và những vị này có đủ tự do tư tưởng và hành động trong một cơ cấu gồm những người trang nghiêm, thấm nhuần những lý tưởng cao thượng, cố gắng bắt tay vào công trình cao cả là phá vỡ những xiềng xích của vòng luân hồi, samsàra, những kiếp sống triền miên lặp đi lặp lại.

Câu hỏi thường được nêu lên là Ðức Phật do dự, không sẵn sàng cho phép nữ giới gia nhập vào Giáo Hội, có phải vì Ngài xem nữ giới là thấp kém hơn nam giới và nghĩ rằng họ không thích hợp với một khuynh hướng cao cả như vậy không. Giải đáp cho câu hỏi là không bao giờ, không có lần nào, Ðức Phật công bố rằng người nữ thua kém người nam, bất luận trên phương diện trí thức hay cương nghị hay khả năng thành đạt Niết Bàn. Chỉ có thể giải thích sự do dự của Ðức Phật trên căn bản là Ngài có thể nhận thấy rằng nếu người phụ nữ gia nhập vào đời sống tự viện thì phẩm hạnh cốt yếu của người sống độc thân, vốn dĩ rất cần thiết cho sự điều hành suôn sẻ của một tự viện, sẽ bị ảnh hưởng và tổn thương. Và cũng vì điều này mà Ngài ban hành tám giới hay điều kiện bảo vệ. Chính tám giới này tạo điều kiện để điều hành tốt đẹp hai cơ quan trong tinh thần trang nghiêm và thích đáng với bản tánh tự nhiên. Nó giữ chư ni trong vị trí thích hợp với tâm tánh người nữ. Cũng chính tám giới này đã hỗ trợ trạng thái điều hoà và thuận thảo và đem lại tình giao hảo thích nghi giữa tỳ khưu và tỳ khưu ni.

Không nên diễn dịch bất cứ như thế nào sự chấp thuận muộn màng của Ðức Phật là Ngài chấp nhận tánh cách yếu đuối hay suy nhược của người phụ nữ. Theo một lối, đó là phương tiện để chỉ cho cả hai, chư tỳ khưu và chư tỳ khưu ni, hiểu rằng sự hình thành Giáo Hội Tỳ Khưu Ni từ giai đoạn sơ khởi đã mang theo với nó một vài yếu tố hiểm nguy, và nếu không có những phương sách dự phòng, trong tương lai có thể xảy ra những bất trắc khó lường. Sự chấp thuận cuối cùng biểu lộ trí sáng suốt thâm sâu của Ðức Phật và khả năng thấy xa trong tương lai hậu quả của bất cứ sinh hoạt nào. Nó cũng cho thấy sự biết ơn và lòng bi mẫn mênh mông như trời biển của Ngài bao gồm mọi tầng lớp và tất cả mọi loài chúng sanh. Nên ghi nhận rằng công trình nghiêm túc hành trì tám giới này có một vai trò tối trọng yếu và có rất nhiều ý nghĩa để gìn giữ tình trạng thanh khiết và thánh thiện của hai Giáo Hội trong một thời gian rất lâu dài. Chính tám giới trọng yếu này (được gọi trong tiếng Pali là garu-dhammas) là tảng đá vững chắc làm nền để xây dựng kiến trúc đồ sộ và công trình sinh hoạt chảy trôi suôn sẻ của hai Giáo Hội.

Cái quyền to lớn và đặc ân mà Bà Mahà Pajàpati Gotami đã tranh đấu và thành công, tức quyền của nữ giới được gia nhập vào Giáo Hội Thánh Thiện, quả thật là quan trọng trong lịch sử tôn giáo. Chí đến ngày nay còn nhiều hệ thống tôn giáo hưng thạnh trên thế giới vẫn chưa chịu nhượng quyền cho hàng phụ nữ thọ giới tu sĩ. Cũng có một số ít tôn giáo đã nhường cho nữ giới quyền xuất gia, bắt đầu hoài nghi rằng không biết nhân nhượng nhiều quyền như thế mình có sáng suốt không, và đặt câu hỏi có cần bước sang giai đoạn này không.

Ðức Phật nổi bật là một trong số ít các vị giáo chủ của nhân loại đã nâng cao hàng phụ nữ lên một vị trí xứng đáng trong đời sống, bằng cách cho phép nữ giới gia nhập vào Giáo Hội Tỳ Khưu Ni, và như vậy, mở ra một chương sách hoàn toàn mới trong lịch sử giải phóng của người phụ nữ.

(Xin xem tiếp phần 12.b)

Chú thích:

[1] Nàsti strìnàm prthagyajno

Na vratam napyuposatham

Patim susrusate yena

Tena svarge mahìyate (Manu, câu 153).

[2] Kindred Sayings, I, trang iii.

[3] Kindred Sayings, I, trang 45.

[4] Jananì janma bhùmis ca svargàdapi garìyasi.

[5] Anguttara Nikàya, 4: 265 và những trang tiếp.

[6] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm. 4: 238 và những trang tiếp.

[7] i. saddho, ii. hirimà ottàpi, iii. akkodhano anupanàhi, iv. anissuki, v. amacchari, vi. anaticàri, vii. sìlavà, viii. bahussuto, ix. àraddhaviriyo, x. upatthita sati, xi. pannavà (Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, 4: 143)

[8] Xem phần sau, Kundala Kesa.

[9] Psalms of the Sistrers (Trưởng Lão Ni Kệ)

[10] Xem Dhammapada, kinh Pháp Cú, câu 242.

[11] Pancakàmagunà ete itthirùpasmim dissare — rupà saddhà rasà gandhà photthabbà ca manoramà (Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, 3: 69)

[12] Gradual Sayings, iii, trang 57.

[13 Xem Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 251.

[14] Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 242.

[15[ Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, I: 7

[16] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, I: 37.

[17] Quý vị quan tâm đến vấn đề “Người Phụ Nữ Trong Phật Giáo” có thể đọc Women Under Primitive Buddhism của tác giả I.B. Horner; Women in Buddhist Literature của tác giả B.C. Law; và bài viết có nhiều tài liệu “Women and the Religious Order of the Buddha” của Jotiya Dhìrasekera, hiện nay là Ðại Ðức Dhammavuhàri (The Mahà Bodhi, May-June 1967, Calcutta).

[18] Tầng thánh đầu tiên là nhập lưu (sotàpatti, cũng gọi là Tu đà huờn); tầng thứ nhì là nhất lai (sakadàgàmi, Tư đà hàm); thứ ba là bất lai (anàgàmi, A na hàm); và thứ tư, bậc thánh cuối cùng, là A la hán (arahatta), giai đoạn mà tất cả mọi thằng thúc đều bị phá tan và mọi nhiễm ô đều được bứng tận gốc rễ.

[19] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, 4: 276; Vinaya, Tạng Luật 2: 254.

[20] Vào ngày rằm và ngày mồng một khi chư tăng cu hội để đọc Pàtimokkha hay Giới Bổn.

[21] Buỗi lễ cử hành nhằm chánh thức chấm dứt mùa nhập hạ.

[22] Một hình thức trừng phạt thuộc về giới luật.

[23] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, 4:274 ff.

[24] Sự hiểu biết có tánh cách phân tách về: i) ý nghĩa (attha), ii) kinh điển (dhamma), iii) ngữ nguyên (nirutti), và iv) thông hiểu rõ ràng ba điểm trên.

[25] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 146, Bài giảng của Ðại Ðức Nandaka cho các bà tỳ khưu ni.

 

 

 

-12.b-

NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC PHẬT GIÁO (tiếp theo)

Người Con Gái Chăn Ðà La và Vấn Ðề Giai Cấp

Ðức Phật Siddhattha Gotama đang ngự trong thành Sàvatthi (Sravasti, Xá Vệ), Ấn Ðộ, tại Kỳ Viên Tịnh Xá của Trưởng Giả Anàthapindika, Cấp Cô Ðộc. Vào lúc ấy Ðại Ðức Ànanda, vị đệ tử trung kiên và là thị giả chuyên cần nhất của Ðức Bổn Sư cũng ngụ tại ngôi tự viện ấy. Ngày nọ, như thường lệ, Trưởng Lão Ànanda y phục chỉnh tề, tay ôm bình bát, chân thong dong đều đặn từng bước, và mắt nhìn xuống, đi vào thành Sàvatthi. Khi đã thọ vừa đủ vật thực để đỡ dạ Ngài tìm ẩn vào một nơi yên tĩnh để độ ngọ. Thọ thực xong Ngài tìm nước và thấy một cái giếng bên đàng. Vào lúc ấy có một thiếu nữ thuộc giai cấp Chandàla (chăn đà la) tên Prakrti, cũng đến giếng ấy gánh nước. Ðại Ðức Ànanda đến gần đứng lại, mắt nhìn xuống đất, hai tay ôm bát. Và câu chuyện đối thoại xảy diễn như sau:

Prakrti: Bạch Sư, cần dùng chi?

Ðại Ðức: Xin cho tôi chút nước để giải khát.

— Tôi là người thuộc giai cấp Chandàla (chăn đà la); không ai dùng nước của chúng tôi.

— Tôi chỉ muốn xin chút nước uống để giải khát. Nước làm đở khát cho tất cả mọi người, dầu người thuộc về giai cấp, đẳng cấp hay chủng tộc nào.

— Sư không biết rằng trong xứ có hai giai cấp: cấp cao và cấp thấp sao? Tôi thuộc về giai cấp thấp.

— Vấn đề giai cấp là cái gì rõ ràng không quan trọng đối với tôi. Tôi không mảy may bận tâm đến việc này. Tôi chỉ cần chút nước để giải khát.

— Làm thế nào tôi, một gái hạng chăn đà la, có thể dâng nước đến Sư? Chí đến cái bóng của chúng tôi, người ở giai cấp cao còn không dám giẫm chân lên. Họ tránh chúng tôi, hất hủi chúng tôi, và nếu bất chợt thấy chúng tôi thì họ mau mau đi rửa mặt với nước thơm và than vản: “Bất hạnh thay! hôm nay chúng ta lại gặp một người thuộc hạng cùng đinh.” Họ khinh rẻ chúng tôi và có những thái độ khinh khi như vậy.

— Tôi không biết giai cấp cao hay giai cấp thấp, cô cũng là một con người như tôi. Tất cả mọi người đều là người như nhau. Tất cả đều cùng chung thuộc về chủng tộc loài người. Tất cả đều có một đầu, hai mắt, hai tai, một miệng và một mũi v.v… Máu chảy trong huyết quản của mọi người đều có màu đỏ như nhau, không phải đen. Có gì khác biệt? Có gì để có thể phân chia?

— Ðúng vậy, bạch Sư, về phần vật chất thì không có gì khác biệt. Tuy nhiên, người ở giai cấp và địa vị cao sang, họ đã tạo thiện nghiệp và vun bồi phước báo nên tái sanh vào gia đình cao cấp. Chúng tôi đã tạo nghiệp bất thiện nên sanh vào giai cấp cùng đinh, làm người khốn khổ cơ hàn, cặn bã của xã hội, phải chịu số phận bị khinh khi ruồng rẫy.

— Dầu sao, Ðức Bổn Sư, bậc Toàn Giác Tối Thượng, Thầy tôi, có ban truyền bức thông điệp cao quý như sau:

“Là cùng đinh không phải do sanh trưởng,

Không phải do sanh trưởng là bà la môn,

Do hành động ta trở thành cùng đinh,

Do hành động ta trở thành bà la môn.”

(Sutta-nipàta. 135).

Tôi không quan tâm đến cái được gọi là giai cấp chút nào, xin cho tôi chút nước vì hiện tôi đang cần giải khát.

Prakrti nói không ra lời, miệng ngậm cứng như câm. Người thiếu nữ sợ hải, cúi xuống nghiêng mình tới trước, run rẩy trịnh trọng dâng nưóc đến Ngài Ànanda, sớt ra từ trong cái chậu, và tim nàng bắt đầu đập, càng lúc càng mau. Nhà Sư hớp nước với lòng biết ơn nồng hậu trong khi Prakrti ngạc nhiên đứng nhìn. Rồi Ðại Ðức Ànanda trở về tịnh xá.

Nhưng Prakrti thì ngẩn người, nhớ lại giọng nói dịu hiền của nhà sư, nàng đắm đuối say mê phẩm cách cao đẹp và tướng mạo oai nghiêm của vị đạo sĩ đến độ ngây ngất sững sờ, vô cùng kinh ngạc.”‘Xin cho tôi chút nước, xin cho tôi chút nước’ Tiếng nói êm dịu nhẹ nhàng dễ cảm; ông ấy nói chuyện với ta hiền hòa thanh nhã làm sao! Ôi, con người đẹp đẽ lạ thường, phong độ cao quý vô cùng! Tại sao ông ấy lại đến với người con gái chăn đà la? Có phải ta là người con gái duy nhất trong thành Sàvatthi này không? Có phải đây là cái giếng duy nhất trong thành này không? Y phục của ta không hiển nhiên cho thấy ta là hạng chăn đà la hay sao? Cách ăn mặc và trang sức của ta không nói lên giai cấp ta hay sao? Người lạ mặt kỳ diệu khác thường ấy có thể là ai? Từ đâu ông ta đến đây? Rồi ông sẽ đi đâu? ờ, mà ông ấy sẽ còn trở lại xin nước uống nữa chăng?” Nàng tiếp tục ngẩn ngơ mơ mộng một cách buồn thảm.

Tâm nàng mãi vơ vẩn đăm chiêu với những ý nghĩ trên trong khi thơ thẩn từng bước trên đường về nhà.

Ðến nhà, nàng đặt bầu nước xuống bỏ qua một bên, rồi vội vã đi tìm mẹ, một bà phù thủy có nhiều bùa phép và van xin mẹ làm bùa chú bỏ cho ông sư.

Bà mẹ: Có gì làm phật ý con, cái gì làm cho con đau khổ, nhà sư ấy là ai?

Prakrti: ‘Xin cho tôi chút nước, xin cho tôi chút nước, xin cho tôi chút nước’ — Mẹ ơi, trước đây con chưa từng nghe một giọng nói dịu hiền thanh nhã như vậy.

— Người mà xin con nước chắc phải thuộc giai cấp của chúng ta.

— Dạ không đâu, đó là một thanh niên đẹp trai tươi tắn lạ thường, đầu cạo trọc, mình đắp y vàng, tay ôm bình bát, rõ thật là thanh nhã trang nghiêm.

— Con nói gì bậy bạ vậy. Làm thế nào một người đầu cạo trọc lại có thể đẹp trai, tươi tắn? Con biết không, người ta cạo đầu là để làm cho không còn vẻ đẹp hay duyên dáng gì nữa?

— Con không biết điều đó, thưa mẹ, người ấy dễ thương, duyên dáng làm sao. Ông ta là hiện thân của lòng từ mẫn và khiêm tốn, của phẩm cách thanh tao và trang nhã.

— Ông ấy có phải là người thuộc giai cấp của chúng ta không?

— Dạ phải, ông nói con cũng thuộc giai cấp của ông.

— Ðó là giai cấp nào vậy con?

— Giai cấp loài người.

— Con có phỉnh lừa ông ta và không nói rõ giai cấp của mình không?

— Con nói với ông con là hạng chăn đà la, nhưng ông ta không chịu tin con. Ông cứ xin nước hoài, và tuyên bố rằng người ta là bà la môn hay cùng đinh do hành động của mình chớ không phải vì sanh trưởng trong một gia đình nào. Rồi ông nói thêm về tự do và phẩm cách con người. Từ bấy lâu nay con lầm lạc ngỡ rằng mình là “kẻ có tội” phải chịu khốn khổ bần cùng, nay nhờ ông con được biết rằng mình cũng thuộc xã hội loài người, và cũng được un đúc từ cái khuôn nhân loại. Ông ta cho con ánh sáng, ông là ánh sáng của con.

‘Xin cho tôi chút nước, xin cho tôi chút nước.’ Ôi, giọng nói êm dịu hiền hoà làm sao!

— Này Prakrti con, người ta được sanh vào giai cấp ăn trên ngồi trước vì trong quá khứ họ đã tạo nghiệp tốt. Còn chúng mình thì sanh vào giai cấp chăn đà la, hạng cùng đinh, cũng do hậu quả của những nghiệp chẳng lành mà mình đã gieo trong quá khứ.

— Không phải vậy đâu thưa mẹ, không phải tất cả đều do nghiệp báo. Chính xã hội loài người đã sắp xếp, đóng dấu, dán nhãn lên, rồi gọi chúng ta là cùng đinh, chính con người tạo sự phân chia giả tạo ấy. Không sao đâu, con muốn biết chàng thanh niên ấy là ai, tên họ và làm nghề gì.

— Theo cách con mô tả, này con, mẹ tin rằng ông ấy là đệ tử của Ðức Phật Gotama (Cồ Ðàm), ông là một người thuộc dòng Sakya (Thích Ca). Mẹ nghe rằng tên ông ta là Ànanda. Ông là một tỳ khưu, một tu sĩ, người đã từ bỏ thế gian cùng với những lạc thú và tiện nghi trần tục.

— Này mẹ yêu dấu, con van xin mẹ, con không thể sống mà không có người ấy. Con phải có ông ta. Xin mẹ hãy dùng tất cả bùa chú và phù phép, hãy tận dụng mọi quyền năng thần thông của mẹ, và đưa Ànanda về con. Nếu không được vậy, con sẽ nhịn đói đến chết, và mẹ sẽ mất đứa con duy nhất.

— Này con yêu dấu, con có biết không rằng Vua xứ Kosala (Câu Tát La) của chúng ta là một thí chủ nhiệt thành của Ðức Phật Gotama? Nếu hay được rằng con say mê và khao khát muốn được Ànanda, ắt vua sẽ tiêu diệt toàn thể cộng đồng Chandàla (chăn đà la). Con có muốn vua làm điều ấy không?

— Thưa mẹ, con van xin, mẹ hãy đọc lên câu thần chú, và ông ấy sẽ đến. Nếu không có ông, con sẽ không thể sống nữa.

— Này Prakrti con, Ðức Phật, đấng Toàn Thiện, đã diệt trừ mọi dục vọng và ô nhiễm. Ngài là bậc Tôn Sư tối thượng. Bùa phép của Ngài cao cường hơn tất cả những người khác. Thần chú của Ngài trội hơn bất cứ ai. Tuy nhiên, mẹ sẽ tận lực cố gắng cho con, đứa con yêu quý nhất đời của mẹ, chớ nên kêu gào than khóc nữa, và hãy đi ăn đi.

Ðể đáp lại lời van xin khẩn thiết của người con gái duy nhất, bà mẹ nhúm một bếp lửa với phân bò khô ngoài sân, ngồi lại một bên với 108 cành hoa arka và bắt đầu đọc thần chú. Và trong khi ấy bà luôn luôn ném hoa, hết cái này đến cái khác, vào ngọn lửa, mỗi lần ném một cành hoa thì miệng đọc thần chú.

Trưởng Lão Ànanda không thể cưỡng lại năng lực, sức quyến rũ mãnh liệt, của bùa phép. Ngài rời bỏ tịnh thất của tu viện, quên hẳn lối sống mà mình đã chọn, và thẳng tiến đến nhà của người thiếu nữ Chandàla (chăn đà la). Bà mẹ trông thấy vị đạo sĩ tiến đến gần nhà, bảo con gái dọn sẵn một chỗ ngồi. Vừa lúc Prakrti sắp xếp xong thì nhà sư vô nhà và ngồi xuống trên chỗ đã dọn sẵn. Ngài lưu ý đến những nụ cười quyến rũ của Prakrti và thuận chiều hướng về những cám dỗ của bà mẹ. Ngày đã về chiều. Vầng thái dương dần dần lặn chìm xuống dưới chân trời phương Tây và bầu không khí im lìm lặng lẽ, trang trọng bao trùm khắp nơi. Nhà sư cảm nghe ngột ngạt, lạc lối và lúng túng. Ngài liền nghĩ đến Ðức Phật, ngưỡng nguyện trong lòng: “Ngưỡng mong Ðức Bổn Sư Từ Mẫn và Trí Tuệ mở lòng trắc ẩn cứu con ra khỏi hiểm họa này.”

Lúc bấy giờ Ðức Phật Toàn Tri, với nhãn quan của một vị Phật, nhìn thấy tình thế nguy ngập của người đệ tử trung thành, và với lòng bi mẫn vô lượng vô biên, Ngài đọc chú Buddhamantra, những câu có ý nghĩa như sau:

“Nếu có một biển hồ trong suốt, không một đớm nhỏ bợn nhơ, hoàn toàn im lặng, và người vào đó được châu toàn, tất cả hiểm họa, mọi nổi kinh sợ và run rẩy đều biến tan, thì hồ đó là Niết Bàn mà chư thiên và tất cả hành giả và các bậc Thánh Nhân, đều sùng kính. Do oai lực của chân lý các lời này, ước nguyện mọi điều lành đến với tỳ khưu Ànanda.”

Câu chú hoàn toàn khắc phục bùa phép của bà phù thủy, và Ngài Ànanda được cứu thoát khỏi tai họa khủng khiếp, quyết định mau mau trở về tịnh thất. Prakrti rất đau lòng xót dạ và thất vọng một cách chua cay, nhưng không từ bỏ nỗi lòng đối với nhà sư. Sáng hôm sau nàng sửa soạn, ăn mặc tươm tất với những đồ trang sức lộng lẫy nhất của mình và chờ sẵn trên con đường mà thường ngày Trưởng Lão Ànanda phải trải qua để vào thành Sàvatthi trì bình. Và trong khi Ngài lặng lẻ tiến hành buổi đi bát thì Prakrti bước liền theo chân, từ nhà này đến nhà kia, dân chúng lấy làm ngạc nhiên nhìn thấy cảnh tượng kỳ lạ này.

Ngài Ànanda hoàn toàn lúng túng, bươn bả quày bước trở về tịnh thất, luôn luôn có Prakrti theo sau, và thuật lại đầu đuôi câu chuyện với Ðức Bổn Sư.

Lúc ấy Prakrti đứng trước cổng chùa, Ðấng Ðại Bi cho vời nàng vào. Với cặp mắt nhìn xuống nàng đi vào, đảnh lễ Ðức Thế Tôn và chấp tay ngồi lại một bên.

Rồi Ðấng Ðại Bi nhỏ nhẹ hỏi cô gái Chandala (chăn đà la): “Cô muốn làm gì với Ðại Ðức Ànanda?”.

Một cách giản dị và ngây thơ, Prakrti bộc lộ tất cả những khát vọng mà nàng ấp ủ sâu kín trong lòng. Ðức Tôn Sư bảo: “Này Prakrti, con hãy về nhà xin phép cha mẹ trước đi.”

Nàng vội vã đi nhanh về nhà rồi quày quả trở lại với sự đồng ý của cha mẹ. Một lần nữa Ðức Phật mở lời:

Ðức Phật: Này Prakrti, có rất nhiều thanh niên trong thành Sàvatthi. Tại sao con chỉ thương có mình Ànanda là một thầy tỳ khưu, người đã từ bỏ nếp sống tại gia?

Prakrti: Con ưa thích và thương yêu ông ấy với tất cả tấm lòng. Ông ấy đem ánh sáng lại cho người con gái đã mãi sống trong đêm tối. Chính ông dạy con rằng con là một con người, không phải nô lệ, và như ai nấy, con cũng có thể hưởng quyền làm người. Ông là ánh sáng cho mắt con, là niềm hy vọng cho tất cả những ước mơ của con, là dòng suối của đời con. Con muốn ông. Con không thể sống mà không có ông.

— Như vậy, nếu muốn được ông ấy, con phải làm những gì Như Lai bảo con làm.

— Ðể có thể được Ànanda, kính bạch Ngài, con sẽ làm tất cả những gì Ngài muốn con làm.

— Nếu con cạo trọc đầu và khoác lên mình tấm y vàng như Ànanda, con sẽ được ông ấy.

— Chắc chắn con sẽ làm y như lời Ngài bảo. Bạch Ngài, con đi gắp về nhà và sẽ trở lại liền, đầu cạo trọc và đắp y vàng.

Prakrti đi nhanh về nhà, và giải thích đầu đuôi cho mẹ. Nghe vậy bà mẹ nổi cơn giận dữ.

— Này con yêu dấu, con điên rồi sao? Con có còn tỉnh táo không, hay đã mất trí rồi?

— Này mẹ, xin mẹ vui lòng cạo đầu cho con, nếu không con sẽ tự quyên sinh.

— Con là con gái ngu. Tóc là trang điểm tốt nhất của người đàn bà. Cạo tóc đi con sẽ xấu xí, khó coi. Trong toàn thể khu thành Sàvatthi này không có người con gái nào dễ thương và duyên dáng như con. Này con yêu dấu của mẹ, hãy nhẫn nại, mẹ sẽ tìm cho con một người chồng xứng đáng.

— Con không cần ai khác, chỉ muốn Ànanda của con. Ðối với con, ông ấy đẹp đẽ sáng ngời, ông ấy duyên dáng dễ thương, có giọng nói nhỏ nhẹ dịu hiền và phong độ thanh tao nhã nhặn, dễ mến làm sao. Ông ấy là trọn cuộc sống của con, là kho tàng bảo vật, là tất cả trong đời con.

— Thôi, hãy đi ăn đi, đừng để chết đói bây giờ.

— Này mẹ, con sẽ nhịn ăn đến chừng nào mẹ cạo đầu cho con.

Sợ con chết đói, bà mẹ liền cạo đầu cho con.

— Bây giờ con giống y như một sư cô. Con sẽ bị mấy ông đạo sĩ và thầy của họ, Ðức Phật Gotama, lường gạt. Họ có bùa phép cao cường kỳ diệu để quyến dụ những người như con. (Chính lòng từ bi vô lượng vô biên của Ðức Phật đã cảm hóa và làm cho người ta về với Ngài, chớ không có sự cám dỗ khuyến dụ hay gian manh xảo quyệt lường gạt nào.)

— Không hề gì đâu mẹ, dầu ra sao thì ra, nếu có được Ànanda của con, là con bằng lòng vui vẻ lắm rồi. Con không cần gì khác. Giờ đây con đi Tịnh Xá Jetavana (Kỳ Viên.

— Muốn làm gì thì làm; con sẽ ăn năn hối tiếc vì sự điên rồ trầm trọng này. Cạo đầu xong, Prakrti vội vã trở lại chùa, đảnh lễ Ðức Phật và ngồi lại một bên. Lúc ấy cũng có nhiều vị sư, kể cả Ngài Ànanda, đã hội về hầu Phật.

Prakrti: — Bạch hóa Ðức Thế Tôn, con đã làm đúng theo lời Ngài bảo. Như đã hứa, xin Ngài cho con Ànanda.

Ðức Phật: — Trước khi được Ànanda, con phải trả lời những câu hỏi của Như Lai.

— Xin vâng, con sẽ giải đáp những câu hỏi của Ngài.

— Con yêu thương Ànanda lắm. Vậy cái gì của nhà sư ấy đã làm cho con đắm đuối say mê.

— Toàn thân ông ấy, các bộ phận và tất cả những gì trong thân thể ông ấy đều rất vừa lòng con. Chính cái nhìn của ông là giọt thuốc nhỏ vào, làm cho mắt con sáng tỏ. Giọng nói của ông làm cho con đắm đuối say mê, ông là tất cả cho con.

— Này Prakrti con, tất cả những gì con thấy và tất cả những gì làm con mê hồn là bề ngoài của lớp da. Sắc đẹp chỉ mỏng manh như lớp da, nông cạn và phù du tạm bợ. Thân thể chúng ta không phải làm bằng vàng, bằng ngọc, bằng hột xoàn hay một loại kim cương nào khác. Trong thân này có: tóc, móng, răng, da, thịt, gân, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, chất nhờn, nước miếng, nước mũi, nước tiểu, phẩn. Phía sau bức hình đẹp đẻ, cái sắc đẹp bề ngoài ấy, là một cơ thể đầy thương tích, không có chi ổn định vững bền và thường còn. Thành trì này được tạo dựng bằng xương, đắp thịt và máu bên ngoài, trong đó tích trử tuổi già, bịnh tật và chết chóc, kiêu hãnh ngã mạn, và phỉ báng kẻ khác . Nếu, vì một lý do nào, những gì ở bên trong được phơi bày ra ngoài, như một cái gối bị lộn ngược, chắc chắn cần phải có một người cầm roi đứng đó để rượt đuổi bầy quạ và chó, đến đó cả đoàn cả lũ rất đông. Khát vọng say mê là do lòng ham muốn ích kỷ.

“Trìu mến sanh sầu muộn,

Trìu mến sanh lo sợ,

Người đã dập tắt hoàn toàn lòng trìu mến,

Không còn sầu muộn, còn gì lo sợ?”

–( Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 213)

Từ ngày bắt đầu thương Ànanda, con đã chịu trăm phần đau khổ, mất ăn, mất ngủ, than vắn thở dài, nỉ non khóc kể, rên rỉ bi ai — những điều ấy làm cho con vô cùng sầu muộn. Giờ đây, hãy suy tư sáng suốt, nghĩ lại xem cơ thể của Ànanda có phải là cái gì đáng được trìu mến bám níu không? Có phải là cái gì đáng được ta hân hoan ôm giữ không? Là cái gì đáng được khát khao ham muốn một cách tuyệt vọng không? Tất cả mọi sự vật là vậy, khi ta vừa bám vào thì nó đã hư hoại, suy tàn và phân tán. Tất cả những vật được cấu tạo là như thế, trong khi ta thèm khát ham muốn thì nó đã mục thúi và phai tàn.

— Kính bạch Ðức Thế Tôn, những lời của Ngài, xác đáng và đúng chân lý, đem lại cho con nhiều an ủi. Mọi việc đã sáng tỏ. Kính xin Ngài cho con xuất gia.

— Ðược, này Prakrti, Giáo Hội của Như Lai rộng mở cho tất cả, không phân biệt giai cấp, màu da, bộ lạc, chủng tộc hay nam nữ. Giáo Hội của Như Lai tựa hồ như biển cả mênh mông. Dường như nước trong các dòng sông Gangà, Yamunà, Sindu, Aciravati, đều tuôn chảy vào đại dương và mất đi lai lịch của nó, cùng thế ấy người từ những giai cấp và bộ lạc khác nhau, từ các nẻo đường khác nhau trong đời sống, đều gia nhập vào Giáo Hội của Như Lai, và rồi ý niệm về giai cấp, đẳng cấp, bộ lạc và những phân biệt khác đều phai mờ và tan biến. Trong đại dương, này Prakrti, chỉ có một vị, và đó là vị mặn của muối. Trong Giáo Hội của Như Lai cũng dường thế ấy, chỉ có một vị, và đó là vị Giải Thoát.

Ehi tvam bhikkhuni, cara brahma cariyam

Hãy đến đây, này tỳ khưu ni, sống đời thánh thiện.

Ðức Thế Tôn gọi nàng vào như thế ấy, và Prakrti trở thành hội viên của Giáo Hội Tỳ Khưu Ni.

Rồi Ðấng Ðại Từ Bi thuyết giảng cho nàng khía cạnh đơn giản của Giáo Pháp bằng những lời lẽ dễ hiểu. Nàng đặt niềm tin vững chắc nơi Tam Bảo, Tri-ratna: Phật, Pháp, Tăng (Buddha, Dhamma và Sangha). Sau đó Ðức Bổn Sư giải thích cho nàng Tứ Diệu Ðế — bốn chân lý vĩnh cửu về sự đau khổ hay bất toại nguyện, về nguồn gốc của đau khổ, sự chấm dứt đau khổ, và con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ, và Ðấng Toàn Giác ban cho nàng món quà Giải Thoát, nâng cao con người, từ bùn lầy suy thoái và điêu tàn đến tình trạng an lạc thanh bình, giác ngộ và Niết Bàn.

Phương cách trình bày rõ ràng dễ hiểu của Ðức Bổn Sư thấm nhuần, ăn sâu vào tận đáy lòng của thiếu nữ và đổi hẳn cái nhìn toàn diện của nàng. Nàng khấu đầu đảnh lễ dưới chân Ðấng Toàn Giác Tối Thượng và xin sám hối về những lỗi lầm của người con gái si mê và không được dạy dỗ.

Sự xuất gia của người con gái Chandàla (chăn đà la) làm cho Vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) xứ Kosala (Câu Tát La) vô cùng bối rối và các thân hào nhân sĩ trong thành Sàvatthi (Xá Vệ) xôn xao nổi dậy. Họ không thể bỏ qua chuyện một người trong gia đình Chandàla (Chăn-đà-la) mà được xuất gia, gia nhập vào Giáo Hội Thiêng Liêng của Ðức Phật. Không thể dung tha, họ kéo nhau đến chùa để hội thảo và tranh luận về vấn đề tối trọng yếu này, một vấn đề vi phạm đến thanh danh và uy tín của họ, nhưng Ðức Phật thì rõ ràng thản nhiên. Ngài luôn luôn phủ nhận hệ thống phân chia giai cấp một cách không thể lầm lẫn. Ngài là vị giáo chủ duy nhất đã cố gắng pha trộn chung trong tinh thần khoan dung đại độ và thuận thảo điều hoà những người mà trước kia đã bị ruồng bỏ vì tình trạng ngu đần của sự phân chia giai cấp.

Ðức Thế Tôn nhẫn nại lắng nghe những lời phiền trách của họ, rồi bắt đầu thuật lại câu chuyện quá khứ của Prakrti:

‘Vào thủa xưa, ở Ấn Ðộ có một làng Chandàla (chăn đà la) bên cạnh sông Gangà (Hằng). Vị trưởng làng tên là Trishanku. Ông này có người con trai đẹp đẽ lạ thường tên Sardulakarna, lão thông thâm sâu ba bộ kinh Veda (Phệ Ðà) và những ngành học vấn khác. Người cha rất ước muốn cho con mình cưới một cô gái xinh đẹp và minh mẫn. Biết trong làng có một thiếu nữ đặc biệt dễ mến, tên Prakrti, con người bà la môn tên Pushkarasari, ông đến bàn thảo vấn đề với người cha cô ấy. Ông bà la môn nổi giận rầy la thậm tệ người cha của chàng thanh niên và từ chối lời cầu hôn.

“Trishanku nhẫn nại giải thích vấn đề như sau: ‘Thưa Ông, tất cả mọi người, dầu ở đâu, nghèo hay giàu, có học hay vô học thức, xấu xí hay xinh đẹp, dầu đen hay dầu trắng, tất cả đều cùng chung thuộc về một xã hội loài người, chung thuộc về một chủng tộc nhân loại. Giai cấp và đẳng cấp là những phân chia do con người giả tạo.’

“Lời giải thích hùng biện ấy hoàn toàn thuyết phục người bà la môn. Ông đồng ý gả con, Prakrti, cho Sardula-karna, con ông Trishanku.”

Và Ðức Phật nói tiếp:

“Prakrti, vị tỳ khưu ni trước mặt chúng ta đây, là con gái người bà la môn, trước kia cũng có tên Prakrti. Sardulakarna là tỳ khưu Ànanda ngày nay, và chính Như Lai là Trishanku, viên trưởng làng, Tù Trưởng Chăn Ðà La.

Vua Pasenadi cùng đoàn tùy tùng chăm chỉ lắng nghe câu chuyện quá khứ, lấy làm kinh ngạc, không nói được một lời, cùng nhau đảnh lễ Ðức Phật và chư Tăng rồi lặng lẽ lui gót trở về.

Mắt Người Trinh Nữ – Subhà Gặp Tên Du Ðãng

Ðã tạo được nhiều phước báu trong quá khứ, vào thời của Ðức Phật Siddhattha Gotama, Bậc Tôn Sư Toàn Giác Tối Thượng, nàng Subhà tái sanh vào gia đình của một vị bà la môn khả kính tại Ràjagaha (Vương Xá, ngày nay là Rajgir, Ấn Ðộ). Nàng có sắc đẹp tuyệt trần, trong toàn thể thân nàng chỗ nào cũng dễ mến, vì lẽ ấy có tên là Subhà. Khi Ðức Bổn Sư ngự tại Ràjagaha cô đặt niềm tin (saddhà) vững chắc nơi Ngài và trở thành một nữ thiện tín. Về sau cô phát tâm lo sợ bản chất đáng kinh hoàng của vòng luân hồi (samsàra), vòng quanh những kiếp sinh tồn triền miên tiếp diễn, và nhận thức rằng thú vui trần tục là dây trói buộc vào vòng nô lệ, một loại hạnh phúc tạm bợ nhất thời, có ít hứng vị. Tình trạng an toàn và tự do nằm trong sự buông bỏ khước từ. Vì thế cô xin xuất gia với Sư Bà Mahà Pajàpati Gotami [1]. Cô Subhà tinh tấn chuyên cần. Hành thiền vắng lặng (samàdhi) và tận lực gia công hành thiền minh sát (vi- passanà) cô chứng đắc tầng thánh thứ ba (anàgàmi, bất lai), không còn bao giờ trở lại Dục Giới sau khi chết.

Ngày kia, Tỳ Khưu Ni Subhà vào vườn xoài của Jìvaka để ngơi nghỉ vào buổi trưa. Cùng lúc ấy có tên du đãng nọ ở thành Ràjagaha, trong lứa tuổi thanh xuân đầy tham dục, thấy ni cô vào rừng thì đâm ra say đắm sắc đẹp diễm kiều của cô. Tên du đãng đứng chận ngang đường không cho đi tới. Ni cô Subhà cố làm cho anh ta hiểu rằng cô là người xuất gia, đã khước từ thế gian, và cảnh cáo anh về những tai hại và nguy cơ của dục lạc, nhưng vô hiệu quả. Lời khuyên của ni cô đã lọt vào lỗ tai của người điếc.

Cuộc đàm thoại sau đây được ghi lại bằng những vần thơ thanh nhã tiếng Pali, trong bộ Therìgàthà, Trưởng Lão Ni Kệ.

  1. Tỳ khưu ni Subhà đang vào khu vườn xoài xinh đẹp. Một tên du đãng chận ngang giữa đàng. Sư cô nói với nó như sau:
  2. “Lỗi gì, tội gì, bần ni đã xúc phạm đến ông mà ông chận đường? Này ông bạn, tôi là một ni cô, đã xuất gia mà chạm đến người nam là phạm giới.
  3. “Phật Giáo đối với tôi thật vô cùng quý báu và tôi rất mến chuộng. Giới tu tập nào mà Ðức Bổn Sư đã ban hành (cho tỳ khưu ni), tôi nghiêm túc thọ trì. Không mảy may ô nhiễm, tôi hoàn toàn trong sạch. Tại sao ông lại chận đường tôi?
  4. “Tâm của ông đầy những tư tưởng tham dục; tôi thì tâm thanh ý tịnh. Quả tim của ông bị những khát vọng đê hèn khuấy động, tôi không còn dục vọng và dầu đi đâu cũng không ham muốn gì cho cái thân xác phàm tục này. Tại sao ông mãi đứng đó chận đường tôi?”

Tên du đãng trả lời:

5.”Sư cô đang còn son trẻ, sắc đẹp của sư cô trong trẻo, thân hình đẹp đẽ diễm kiều. Gia nhập Giáo Hội (sống đời thánh thiện) thì có lợi ích gì; hãy lột bỏ đi bộ y vàng. Ðến đây, chúng ta hãy thọ hưởng lạc thú trong khu rừng đầy bông hoa đang đua nở, hãy tìm thú vui của nhục dục.

  1. “Xem kìa, hương thơm ngào ngạt của ngàn hoa đang phảng phất trong gió. Hãy thưởng ngoạn mùa xuân đang tung nở, hớn hở trong niềm vui. Hãy đến đây, thọ hưởng lạc thú trong khu rừng đầy bông hoa đang đua nở, hãy tìm thú vui trong nhục dục.
  2. “Những ngọn cây đầy bông hoa nghiêng ngả, lã lơi uốn mình trước gió, hình như đang ca hát để đón mừng chúng ta. Nhưng sư cô thì thui thủi vào rừng một mình, làm sao tìm được hạnh phúc trong đó?
  3. “Vào trong khu rừng hoang dại, nơi mà thú dữ hằng lui tới, nơi bị khuấy động và luôn luôn phải run sợ trước những thớt voi đi tìm mồi, bốc lên mùi rừng rú dã man, hôi thúi nồng nặc, nơi vắng bóng người và đầy kinh sợ hải hùng [2], sư cô muốn vào trong ấy một mình, không ai tháp tùng hay sao?

9.”Ôi, này người thiếu nữ đẹp đẽ tuyệt trần! Như pho tượng đúc bằng vàng ròng lộng lẫy sáng chói, như tiên nữ nhảy múa hát ca trong một hoa viên trên cảnh trời, trong bộ y phục làm bằng tơ lụa của Benares cô sẽ đẹp đẽ xinh tươi.

  1. “Ôi, thiếu nữ với cặp mắt mơ mộng đẹp như tiên! Tôi sẽ hàng phục dưới quyền uy của cô nếu chúng ta có thể chung sống và cùng nhau trải qua cuộc đời trong khu rừng hoang dại này và thọ hưởng dục lạc. Cùng khắp thế gian không có ai dịu hiền và dễ mến như cô. (Ðối với tôi cô còn quý hơn là mạng sống của tôi).
  2. “Nếu cô lưu ý đến những lời của tôi (từ bỏ và lánh xa đời sống độc thân của cô), cùng nhau sống đời tại gia cư sĩ và hưởng thụ nhục dục ngũ trần. Những kiều nữ thướt tha dễ mến sống trong những tòa nhà đẹp đẽ sẽ chăm sóc và cung phụng cô về mọi nhu cầu.
  3. “Hãy mặc những y phục may bằng hàng lụa ở Benares. Hãy trang điểm với những tràng hoa, và ướp tẩm nước thơm hương bay ngào ngạt. Tôi sẽ thân tặng cô nhiều đồ trang sức đủ loại, với những hột kim cương lóng lánh sáng ngời.

13 “Cô sẽ nằm trải mình trên một cái giưòng ấm cúng tiện nghi và sang trọng, có mùi thơm của gỗ trầm phảng phất, và bao phủ trong một tấm trải giường mới mịn bằng lông trừu êm ấm và gối đầu trên những cái gối dồn với lông thiên nga mềm mại, màn trướng mới mẻ tinh anh.

  1. “Dường như hoa sen xinh đẹp mà nở tung trong một ao đầm hoang dại (và lặng lẽ tàn tạ, không ai màng muốn), cùng thế ấy, cô là một sư cô thanh khiết; thân hình trong trắng, trinh bạch và giữ vẹn tiết tháo, cô sẽ già nua và suy nhược rồi tàn tạ hoại diệt với tuổi già.”

Sư cô Subhà hỏi:

  1. “Nhìn vào phần nào trong cơ thể phù du yếu ớt đang suy tàn này, ông thấy thích thú? Có gì mà ông xem là dễ mến trong cái thân nhơ bẩn ngạt mùi hôi thúi này?”

Tên du đãng trả lời:

  1. “Mắt cô giống như mắt của những con hưu rụt rè e sợ; nó tựa như cặp mắt xinh đẹp của bà tiên nữ sống nơi thâm sơn cùng cốc. Nhìn vào đó lòng tôi tê tái tràn đầy khát vọng không thể kềm chế.
  2. “Gương mặt sáng ngời của cô chói lọi xinh tươi như một pho tượng vàng rực rỡ. Mắt cô lóng lánh như những tai sen màu đỏ. Nhìn vào lòng tôi rung cảm không thể kềm chế.

18.”Với lông nheo dài của cô! Với cặp mắt trong trẻo và lóng lánh sáng ngời của cô! Dầu cách xa ngàn dậm tôi vẫn chỉ mơ cặp mắt chói dịu ấy. Ôi, người có cặp mắt xinh đẹp như các vì tiên nữ trong câu chuyện thần thoại! Trong thế gian này không có chi mà tôi yêu quý bằng đôi mắt ngọc của cô.”

Sư cô Subhà trả lời:

19.”Ông chận đường một người con gái của Ðức Phật. Ước vọng của ông cũng điên rồ và vô ích như dấn bước trên con đường nguy hại. Lòng khao khát của ông muốn được tôi cũng dại khờ và vô nghĩa như muốn nhảy vọt lên đỉnh núi Meru, hay mong muốn mặt trăng là món đồ chơi của con người. (Là một ước muốn không bao giờ được thỏa mãn).

  1. “Không nơi nào trên thế gian này có bất luận cái chi (dầu vô tri vô giác hay hữu giác hữu tri) mà có thể gợi lòng tham dục của tôi. Tôi không biết tham dục là gì. Lòng tham dục ấy, tôi đã phá tan từ gốc rễ bằng cách vững chắc tiến hành trên Con Ðường Cao Thượng.
  2. “Như vật gì mình đã vứt bỏ trong đống lửa đang phừng cháy, như chai thuốc độc đã bị hủy diệt, dường thế ấy ngọn lửa tham dục của tôi đã bị dập tắt vĩnh viễn. Tôi không biết (thấy) tham dục là gì.

22.”Nếu có thể được, hãy đi cám dỗ người đàn bà nào khác mà chưa từng có đủ sáng suốt để trông thấy ngũ uẩn [3], hoặc người chưa từng liên hệ với Ðức Phật. Nơi đây ông chỉ khuyấy rầy người tu nữ — một sư cô đã chứng ngộ Tứ Diệu Ðế. [4]

23.”Trước những lời khiển trách và tán dương, trong đau khổ và hạnh phúc, tôi luôn luôn giữ chánh niệm. Như vậy, không lúc nào tâm tôi bám níu hay thèm khát điều chi. Tất cả các pháp hữu vi, hiện hữu do duyên sinh, đều giả tạm. Tôi đã hoàn toàn thông suốt điều này.

  1. “Tôi là đệ tử của Ðức Phật, người đã vượt thoát ra khỏi mọi thúc dục ô nhiễm, đã tận diệt mọi ái dục bẩn thỉu đê hèn. Lái chiếc xe Bát Chánh Ðạo, tôi thẳng tiến (đến Niết Bàn). Những mũi tên của tham dục đã được nhổ ra. Tôi tìm những cảnh quạnh hiu cô tịch, đơn độc và thanh khiết để thích thú sống một mình (an hưởng thú vui của rừng núi).
  2. “Ôi, ta đã thấy những đồ chơi hình giả, tay chân sơn phết với màu mè sực sỡ và những thằng hình bằng gỗ để làm trò chơi múa rối, được nối ráp và khéo léo cột với nhau bằng chỉ và, có thể thong thả nhảy múa theo mọi chiều hướng.
  3. “Nhưng một khi gỗ, chỉ và trục quây đều được tháo gỡ hay nới lỏng và bỏ tung toé món ở đây món ở kia, thì còn đâu là đồ chơi hình giả, đâu là thằng hình múa rối. Có nơi nào trong đó mà ông có thể chú tâm đến?
  4. “Cơ thể này của ta cũng dường như thằng hình gỗ đồ chơi. Nó không còn nữa khi các bộ phận vật lý và những phụ tùng của nó không còn. Ngoài những bộ phận và phụ thuộc không còn người sống nữa. Ông sẽ chú tâm vào đâu (phần nào)?
  5. “Hãy nhìn bức hình vẻ một thiếu nữ trên tường, với cái nhìn sai lạc ông sẽ thấy đó là một người sống. Sự nhận thấy ấy là một ảo ảnh. [5]
  6. “Này ông, con người thiển trí! con người đui mù. Ông cố bám vào thân này như vật gì thường còn và thuộc về của ông chăng, trong khi nó vốn chỉ là bọt bèo và bong bóng? Tấm thân phù du tạm bợ này tựa hồ như trò chơi của nhà ảo thuật, như một cội cây bằng vàng mà ông thấy trong mộng, một pho tượng bằng bạc mà nhà ảo thuật khéo léo trình bày giữa đám đông, ông có luyến ái nó không?
  7. “Mắt này chỉ là một hòn bi nhỏ nằm trên một nạng cây — một cái bong bóng đầy nước mắt và tiết ra chất nhờn, một sự pha trộn (những màu trắng, đen và xanh v.v…) đó là tất cả những gì tạo nên hình dáng của mắt.”
  8. Sư cô Subhà không còn luyến ái bất cứ gì; cô không luyến ái cặp mắt. Do đó, trong một cảnh tượng rất cảm động, sư cô thình lình hồn nhiên móc trồng mắt ra đưa cho tên du đãng và nói: “Ðây là con mắt đó (con mắt mà ông đắm đuối say mê). Hãy lấy đi.”
  9. Tức khắc, lòng tham dục của tên du đãng biến tan. Xin sám hối với sư cô, chàng ta nói: “Ôi, này sư cô, bậc thánh thiện và vô nhiễm! Ngưỡng nguyện sư cô được an lành! Ngưỡng nguyện mắt sư cô được hồi phục! Tôi không bao giờ còn dám tái phạm tội ác ghê tởm như vậy nữa.
  10. “Cũng dường như tôi đi vào một ngọn lửa đang cháy đỏ. Cũng giống như tôi đang ôm một con rắn độc. Phá khuấy một người hiền lành thánh thiện như sư cô thì ích lợi gì? Cúi xin sư cô khoan dung tha lỗi cho tôi.
  11. Ðược thoát ra khỏi tay tên du đãng, sư cô Subhà về hầu Phật, bậc Toàn Giác Tối Thượng. Nơi đây, ngưỡng nhìn lên dung nhan lộng lẩy của Ðức Bổn Sư nhãn quan của sư cô liền được hồi phục trong tất cả tình trạng rực rỡ vinh quang của nó.

Khi nhãn quan trở lại như xưa sư cô vô cùng hoan hỷ, và Ðức Phật thuyết giảng về những pháp để thành đạt tầng thánh cao nhất. Bà đè nén niềm hoan hỷ thích thú trong lòng, phát triển thiền minh sát và chứng ngộ Ðạo Quả A La Hán, tầng thứ tư và cũng là tầng cuối cùng trong tứ thánh, bằng cách trọn vẹn nắm vững Giáo Pháp, thông suốt đầy đủ ý nghĩa trong tất cả chi tiết.

Về sau, thọ hưởng hạnh phúc của đạo quả Niết Bàn, và suy tư về tầng thánh mà mình đã chứng ngộ, bà tuyên bố cuộc đàm thọai với tên du đãng qua những vần thơ được đề cập đến trên đây.

Kisàgotami – Chỉ Một Nhúm Hột Cải [6]

Tích chuyện Bà Kisàgotami là một trong những chuyện cảm động nhất trong kinh điển được ghi nhận. Bà sanh trưởng trong một gia đình nghèo tại thành Sàvatthi (Xá Vệ). Bà thuộc dòng Gotama, và do đó là họ hàng với Ðức Phật Gotama. Vì có thân hình mỏng manh yếu ớt nên người ta gọi bà là Kisà (có nghĩa là ốm gầy) Gotami. Khi đến tuổi trưởng thành bà được gã cho người con trai của một thương gia, và đúng lúc, hạ sanh một trai. Than ôi, khi bé lớn khôn vừa đến tuổi bặp bẹ biết nói và biết chơi thì chết, làm cho mẹ vô cùng sầu thảm. Vì tình thương con vô bờ bến, đứa con duy nhất, bà không thể tin rằng con bà đã thở hơi thở cuối cùng, ôm con vào lòng chạy đôn chạy đáo tìm thuốc cứu mạng. Trong toàn thể vùng Sàvatthi không vị lương y nào có thể cứu sống một người chết.

Vì quá sầu muộn bà như người mất trí, bôn ba chạy từ nhà này sang nhà khác khóc nức nở, van kêu: “Cúi xin quý ông quý bà rộng lòng cho tôi thuốc để cứu mạng con!” Tuy nhiên, dân chúng không thể thuyết phục bà rằng đứa bé đã chết. Nỗi khổ đau của bà quá sâu đậm để có thể nhận định đúng mức lời họ. Sau cùng có một vị trưởng lão sáng suốt thấu hiểu tâm trạng đáng thương của bà mẹ đang khóc sướt mướt, khuyên bà nên đến gặp Ðức Phật Tối Thượng. Ðức Bổn Sư Ðại Từ Ðại Bi, vào lúc bấy giờ đang ngự tại Tịnh Xá Jetavana (Kỳ Viên) của Trưởng Giả Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc), tại Sàvatthi.

Bà lật đật tuôn chạy đến tịnh xá, đặt đứa con chết dưới chân Ðức Bổn Sư, đảnh lễ Ngài và thuật lại câu chuyện rất thương tâm có thể làm mềm dịu quả tim chai cứng nhất.

Ðấng Ðại Bi nhìn bà với cặp mắt dịu hiền và nhỏ nhẹ nói: “Này bà chị thân mến, có một món thuốc thần hiệu chắc chắn chữa được bịnh, Như Lai sẽ hàn gắn vết thương lòng của bà. Chỉ cần tìm cho Như Lai một nhúm hột cải xin từ bất cứ nhà nào trong thành này.” Bà Gotami nghe những lời an ủi ấy thì lòng mừng vô hạn.

“Nhưng nên ghi nhận, này Gotami,” Ðức Bổn Sư nói tiếp, “rằng phải xin hột cải ấy từ một nhà nào mà chưa từng bao giờ có người chết.”

Tuy nhiên, vì quá đổi vui mừng bà Gotami không thấu hiểu ý nghĩa lời nói của đấng Toàn Giác. Với ước vọng cứu được đứa con yêu dấu, bà tức khắc vội vã chạy tìm hột cải. Tất cả mọi người trong thành đều tận tình thương hại bà và rất sẵn sàng cho hột cải mà bà hết lòng mong tìm. Nhưng than ôi, bà không thể tìm một nhà nào mà màra, thần chết, chưa hề đến viếng.

Trời đã về chiều, mặt trời lặng lẻ, nhẹ nhàng lặn chìm trong vùng trời ở phương Tây, đàn chim vội vàng bay về ổ, và Bà Gotami cuối cùng nhận thức tánh cách phổ cập của hiện tượng chết. Chân lý phủ phàng rọi sáng cho bà như một ánh chớp, và bà thông hiểu rằng tất cả những gì yêu quý mến thương nhất trên đời đều vô thường. Tất cả mọi sum hợp đều chấm dứt trong chia ly và đời sống suy tàn, biến tan vào cõi chết. Do đó bà đi ra ngoại ô thành, đặt con trong một bãi tha ma rồi về tịnh xá, vừa than:

“Ðây không phải là luật lệ của xóm làng, không phải luật của thành phố,

Không phải là luật chỉ để áp dụng riêng cho gia đình này hay gia đình khác;

Mà cho toàn thể thế gian — hơn thế nữa, cho tất cả chư thiên trên cảnh trời.

Ðây là định luật: tất cả đều vô thường.” [7]

“Này Gotami, bà có tìm ra hột cải không?” Ðức Thế Tôn hỏi.

“Bạch Ðức Thế Tôn, con ra đi, bế trong lòng

Ðứa con càng lúc càng lạnh dần, đi từng nhà để hỏi xin —

Từ nơi rừng rậm này đến thành phố —

‘Cúi xin ông bà ban ơn ban phước,

Cho tôi chút hột cải’, và mọi người ai có cũng đều cho,

Vì tất cả người nghèo đều thương hại người nghèo;

Nhưng khi con hỏi, nơi đây, tại nhà bạn,

Ðã từng có người chết không —

Chồng, vợ, hay con, hay người làm công? họ trả lời:

‘Này bà chị! Bà hỏi gì? Người chết

Thì có thật nhiều, người sống chỉ một ít!’

Rồi trả lại hột cải với lời cảm tạ buồn thảm.

Và van xin ở nhà khác; nhưng người khác nói,

‘Ðây là hột cải, nhưng người làm công trong nhà đã chết!’

‘Ðây là hột cải, nhưng chồng tôi đã qua đời!’

‘Ðây là hột cải, nhưng khi gieo mạ xong thì chồng tôi chết

Giữa mùa mưa và mùa gặt hái!’

Ôi, Bạch Ðức Thế Tôn! Con không thể tìm đâu ra một nhà

Có hột cải mà không có người chết!

Do vậy con đành lìa bỏ đứa con — nó không còn bú

Cũng không cười — dưới một lùm cây, bên cạnh dòng suối,

Ðể rồi về đây chiêm ngưỡng dung nhan Ngài,

Ðảnh lễ dưới chân Ngài, và bạch hỏi van xin Ngài chỉ cho

Nơi nào có thể tìm ra hột cải ấy và không thấy thần chết,

Quả thật vậy, nếu giờ đây con của con không chết,

Như con sợ, và như người ta nói với con.”

Bà Kisàgotami bạch như vậy.

Ðức Bổn Sư dạy,

“Này bà tín nữ! Bà đã tìm ra,”

“Tìm được cái gì mà không ai tìm thấy —

Niềm an ủi đắng cay mà Như Lai tặng cho bà.

Ðứa con yêu dấu đã an giấc nghìn thu

Trong vòng tay của bà ngày hôm qua;

Hôm nay bà biết rằng toàn thể thế gian mênh mông này

Ðều than khóc nỗi khổ đau của họ cũng giống vậy.” [8]

“Ðối với người mà tình thương đã gắn bó

Tập trung và bám chặt vào con cái và đàn gia súc,

Cái chết tràn đến như trận thủy lụt trong đêm tối,

Càn quét cuốn đi trọn cả làng đang ngon giấc.” [9]

Những lời của Ðức Bổn Sư thấm sâu vào tâm bà, lúc bấy giờ đã thấu triệt rằng vô thường là đặc tướng của tất cả mọi hiện tượng sinh tồn. Bà chứng đắc tầng thánh đầu tiên (sotàpànna, nhập lưu) và xin xuất gia, gia nhập vào Giáo Hội Tỳ Khưu Ni. Sau đó không bao lâu, nhờ nghe những thời thuyết giảng của Ðấng Bổn Sư Ðại Từ Ðại Bi, và nhờ chuyên cần hành thiền, bà tiến đến mức tuyệt đỉnh thanh tịnh, tầng thánh cuối cùng, vượt ra khỏi mọi bợn nhơ của đời sống. Về sau, nhớ lại những thành tựu cao cả đã đạt, bà nói lên một số kệ ngôn mà dưới đây xin ghi lại hai câu cuối cùng:

“Hoan hỷ thay! Ta đã dấn bước

Trải qua con đường Thánh Thiện, Bát Chánh Ðạo

Thẳng tiến đến trạng thái cao siêu.

Ta đã chứng ngộ Niết Bàn, và nhìn vào

Gương sáng của Giáo Pháp thiêng liêng.

Ta, chí đến ta, vết thương đau khổ cũng được hàn gắn,

Ðã đặt xuống gánh nặng, nhiệm vụ đã viên mãn hoàn thành,

Tâm ta đã hoàn toàn giải thoát,

Ta, sư cô Kisàgotami, đã tuyên ngôn điều này!” [10]

Chú thích:

[1] Xin xem phần trên, Tích chuyện Bà Mahà Pajàpati Gotami.

[2] Bản Chú Giải nói: “Trong rừng vào lúc ấy không có gì giống như vậy. Nhưng tên du đãng nói như thế vì muốn làm cho sư cô hoảng sợ.”

[3] Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hay nói cách khác, là danh và sắc, cái mà được gọi là chúng sanh.

[4] Ðau khổ hay bất toại nguyện, nguồn gốc của đau khổ, sự chấm dứt đau khổ, và con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ.

[5] Ðức Phật nói đến ba loại ảo ảnh (tiếng Pali là vipallàsa, Sanskrit: viparyàsa) bám níu vào tâm con người.

[6] Paramatthadìpanì, Chú Giải bộ Therìgàthà, Trưởng Lão Ni Kệ.

[7] Psalms of the Sisters, trang 107

[8] The Light of Asia.

[9] Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 287. Psalms of the Sisters, trang 107

[10] Psalms of the Sisters, trang 109.

 

Các tin mới hơn

Các tin cũ hơn